Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Một số vấn đề pháp lý về công ty hợp danh theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành" do sinh viên Nguyễn Chí Hiếu thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội (chuyên ngành Luật, năm 2023, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Thị Yến). Đề tài được triển khai trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam chuyển đổi từ mô hình tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận nền kinh tế gồm nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế tư nhân được xác định là một trong những động lực quan trọng. Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 11/01/2007 đã mở ra cơ hội hội nhập quốc tế sâu rộng, thúc đẩy sự phát triển đa dạng các loại hình doanh nghiệp.
Công ty hợp danh – loại hình công ty mang bản chất đối nhân – lần đầu tiên được ghi nhận chính thức là một chủ thể kinh doanh độc lập trong Luật Doanh nghiệp năm 1999, sau đó tiếp tục được kế thừa, sửa đổi và hoàn thiện trong Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Doanh nghiệp năm 2014 và hiện nay là Luật Doanh nghiệp năm 2020. Mô hình này đáp ứng nhu cầu kinh doanh của các cá nhân coi trọng mức độ thân tín và uy tín nghề nghiệp. Tuy nhiên, trong thực tiễn đời sống kinh tế – xã hội tại Việt Nam, công ty hợp danh vẫn là một mô hình khá mới mẻ, nhận thức của người dân và giới đầu tư còn nhiều hạn chế, dẫn đến số lượng doanh nghiệp đăng ký và quy mô hoạt động còn rất khiêm tốn so với các loại hình công ty đối vốn.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của khóa luận là làm rõ các vấn đề pháp lý cơ bản về công ty hợp danh theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành (trọng tâm là Luật Doanh nghiệp năm 2020), chỉ ra những bất cập trong quy định và thực tiễn thi hành, từ đó đề xuất các định hướng, kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả áp dụng loại hình doanh nghiệp này.
Để đạt được mục tiêu nêu trên, tác giả xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu, hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về công ty hợp danh và pháp luật điều chỉnh công ty hợp danh; phân tích lịch sử hình thành, bản chất đối nhân và bài học kinh nghiệm từ pháp luật quốc tế (Pháp, Hoa Kỳ).
- Phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về thành lập, quy chế thành viên, chế độ tài sản - vốn, mô hình tổ chức quản lý và giải thể công ty hợp danh; đồng thời khảo sát thực tiễn áp dụng thông qua số liệu thống kê và mô hình hoạt động điển hình.
- Đề xuất các yêu cầu, kiến nghị lập pháp cụ thể và các giải pháp thực tiễn nhằm hoàn thiện pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho công ty hợp danh phát triển tại Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh mô hình công ty hợp danh trong pháp luật doanh nghiệp Việt Nam (quy chế thành viên, giới hạn trách nhiệm tài sản, tư cách pháp lý, cơ cấu vốn, tổ chức điều hành) cùng thực tiễn vận hành của loại hình này. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung vào pháp luật Việt Nam hiện hành, có sự so sánh, đối chiếu với pháp luật một số quốc gia trên thế giới; phạm vi thời gian khảo sát văn bản trải dài từ các đạo luật thời kỳ trước (Dân luật Bắc kỳ 1931, Luật Doanh nghiệp các năm 1999, 2005, 2014, 2020) và chuỗi số liệu thực tế về tình hình đăng ký doanh nghiệp từ năm 2015 đến tháng 10/2022. Khóa luận không đi sâu vào các vấn đề kinh tế - xã hội nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của pháp luật doanh nghiệp.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Nền tảng lý luận của công trình dựa trên hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách của Nhà nước về phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần và tự do kinh doanh.
Khung văn bản pháp luật và học thuyết được tác giả sử dụng bao gồm:
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam: Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Dân sự năm 2015 (đặc biệt là Điều 87 về trách nhiệm dân sự của pháp nhân), Luật Doanh nghiệp năm 2020 (trọng tâm là Chương VI và các điều khoản liên quan: Điều 4, 17, 177, 178, 180, 185, 187, 208), Luật Doanh nghiệp các năm 1999, 2005, 2014, Luật Phá sản, Nghị định số 01/2021/NĐ-CP ngày 04/01/2021 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp, Nghị định số 105/2004/NĐ-CP ngày 30/03/2004 của Chính phủ về kiểm toán độc lập, cùng các quy định của Dân luật Bắc kỳ năm 1931.
- Hệ thống pháp luật quốc tế và nguồn lịch sử: Bộ luật Hammurabi (khoảng 2300 TCN), khái niệm hợp danh phi thương mại shutolin của người Do Thái (khoảng 2000 TCN), Luật La Mã (Bộ luật Justinian) với các nguyên tắc qui facit per alium facit per se (người thực hiện hành vi thông qua người khác là thực hiện cho chính mình) và delectus personae (sự lựa chọn dựa trên nhân thân); Luật Thống nhất về công ty hợp danh của Hoa Kỳ (Uniform Partnership Act - UPA 1914, sửa đổi năm 1992/1994), Luật Thống nhất về công ty hợp danh hữu hạn của Hoa Kỳ (Uniform Limited Partnership Act - ULPA 1916, sửa đổi năm 1976/1985), cùng các nguyên tắc về công ty đối nhân trong thương luật Cộng hòa Pháp.
Phương pháp nghiên cứu được vận dụng trong khóa luận gồm:
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Xem xét sự ra đời, tồn tại và biến đổi của chế định công ty hợp danh trong mối liên hệ với các giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội cụ thể của Việt Nam và thế giới.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Mổ xẻ từng chế định pháp lý cụ thể (chủ thể, vốn, quản trị, trách nhiệm tài sản) để rút ra các đặc trưng bản chất của công ty hợp danh.
- Phương pháp so sánh pháp luật: Đối chiếu quy định của pháp luật Việt Nam với pháp luật Pháp, Hoa Kỳ để làm nổi bật sự khác biệt về tư cách pháp nhân, cơ cấu thành viên và chế độ thuế.
- Phương pháp đối chiếu thực tiễn: Kết hợp phân tích quy định lý thuyết với số liệu thống kê thực tế thành lập, giải thể doanh nghiệp và mô hình hoạt động của các tổ chức hành nghề thực tế.
Nguồn dữ liệu sử dụng trong khóa luận bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực định; số liệu thống kê chính thức từ Cục Quản lý đăng ký kinh doanh (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) giai đoạn 2015 – 10/2022; cùng các hồ sơ, thông tin thực tế về quá trình hoạt động của các công ty hợp danh tại Việt Nam (Công ty Hợp danh Kiểm toán Việt Nam - CPA VIETNAM, Công ty Luật Hợp danh YKVN, Công ty Luật Hợp danh Bross & Cộng sự).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Khái quát về công ty hợp danh và pháp luật về công ty hợp danh
Chương này tập trung làm sáng tỏ các vấn đề lý luận nền tảng, bản chất pháp lý, đặc điểm, vai trò, tiến trình lịch sử và kinh nghiệm quốc tế về công ty hợp danh.
-
Khái niệm và đặc điểm pháp lý: Công ty hợp danh là mô hình công ty mang bản chất đối nhân rõ nét. Yếu tố nhân thân, trình độ chuyên môn, uy tín cá nhân của thành viên được đề cao hơn yếu tố vốn góp vật chất. Tác giả phân tích bốn đặc điểm pháp lý cơ bản:
- Bản chất đối nhân: Vốn góp có thể tồn tại dưới dạng vật chất (tiền, tài sản) hoặc phi vật chất (uy tín, kinh nghiệm, kỹ năng nghề nghiệp). Sự thay đổi thành viên hợp danh tác động trực tiếp đến sự tồn vong của công ty.
- Số lượng thành viên: Pháp luật Việt Nam yêu cầu phải có ít nhất 02 thành viên hợp danh là cá nhân cùng kinh doanh dưới một tên chung.
- Chế độ trách nhiệm kép: Thành viên hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn và liên đới bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các nghĩa vụ của công ty; thành viên góp vốn (nếu có) chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số vốn đã cam kết góp.
- Tư cách pháp lý: Khác với nhiều nước trên thế giới (vốn không công nhận tư cách pháp nhân cho công ty hợp danh do tài sản công ty không hoàn toàn độc lập với tài sản cá nhân của thành viên hợp danh), pháp luật Việt Nam vẫn ghi nhận công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
-
Vai trò của công ty hợp danh: Mô hình này đáp ứng nhu cầu liên kết của các nhà đầu tư nhỏ có mối quan hệ thân tộc, quen biết, chia sẻ mục tiêu chung (tương đồng với tập quán phường hội truyền thống); nâng cao tinh thần trách nhiệm cá nhân của người quản lý do phải gánh chịu rủi ro vô hạn; phù hợp đặc thù với các ngành nghề dịch vụ đòi hỏi chuyên môn và đạo đức cao (tư vấn pháp luật, kiểm toán, thiết kế xây dựng, khám chữa bệnh); đồng thời tạo kênh huy động vốn kết hợp giữa người có năng lực quản trị, chuyên môn nhưng thiếu vốn và người có vốn nhưng không muốn trực tiếp điều hành.
-
Lịch sử hình thành và bài học quốc tế: Khóa luận điểm lại sự phát triển của công ty hợp danh từ Luật Babylon, Luật La Mã, qua châu Âu thời kỳ trung - cận đại, đến quá trình du nhập vào Việt Nam qua Dân luật Bắc kỳ 1931 (chia Hội buôn thành Hội người và Hội vốn), giai đoạn kinh tế kế hoạch hóa (1954-1986 chỉ thừa nhận kinh tế quốc doanh), và các mốc lập pháp 1990, 1999, 2005, 2014, 2020. Qua nghiên cứu luật thương mại Pháp và Hoa Kỳ (các đạo luật UPA, ULPA), tác giả rút ra 4 bài học:
- Cần phân định rõ ràng giữa công ty hợp danh thông thường (chỉ gồm thành viên hợp danh) và công ty hợp danh hữu hạn / công ty hợp vốn đơn giản (gồm cả thành viên hợp danh và thành viên góp vốn).
- Xem xét khả năng cho phép pháp nhân trở thành thành viên công ty hợp danh (đặc biệt là thành viên góp vốn).
- Xử lý bất cập về việc đánh thuế hai lần (thuế thu nhập doanh nghiệp ở cấp độ công ty và thuế thu nhập cá nhân ở cấp độ thành viên hợp danh).
- Cân nhắc tính tương thích của việc trao tư cách pháp nhân trong mối tương quan với chế độ chịu trách nhiệm tài sản vô hạn theo quy định của pháp luật dân sự.
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về công ty hợp danh ở Việt Nam
Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy phạm pháp luật thực định và đánh giá bức tranh thực tế về tình hình đăng ký, vận hành của công ty hợp danh tại Việt Nam.
-
Thực trạng quy định pháp luật:
- Về thành lập: Cá nhân thành lập phải đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không thuộc đối tượng bị cấm theo khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp năm 2020. Hồ sơ và thủ tục đăng ký trực tiếp hoặc trực tuyến qua Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp tuân theo Nghị định số 01/2021/NĐ-CP.
- Về quy chế thành viên:
- Thành viên hợp danh: Bắt buộc là cá nhân (khoản 1 Điều 177). Có quyền đại diện nhân danh công ty tiến hành hoạt động kinh doanh, tham gia biểu quyết tại Hội đồng thành viên, yêu cầu công ty hoàn trả chi phí và lãi suất thị trường đối với các khoản tiền ứng trước. Bị hạn chế quyền theo Điều 180 (không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác trừ khi được các thành viên hợp danh còn lại nhất trí; không được nhân danh cá nhân/người khác kinh doanh cùng ngành nghề để tư lợi). Phải liên đới chịu trách nhiệm vô hạn thanh toán toàn bộ nợ tồn đọng khi tài sản công ty không đủ.
- Thành viên góp vốn: Là cá nhân hoặc tổ chức (Điều 187), chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi vốn cam kết góp; được chia lợi nhuận, cung cấp báo cáo tài chính, tự do chuyển nhượng/định đoạt phần vốn góp; nhưng bị nghiêm cấm tham gia quản trị, điều hành hoặc nhân danh công ty kinh doanh. Phải nộp đủ vốn cam kết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được chấp thuận tiếp nhận.
- Về chế độ vốn và tài sản: Vốn điều lệ là tổng giá trị tài sản đã góp hoặc cam kết góp (khoản 34 Điều 4). Tài sản góp vốn bao gồm cả yếu tố vật chất và phi vật chất. Khoản 3 Điều 177 nghiêm cấm công ty hợp danh phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào (kể cả trái phiếu và cổ phiếu), làm hạn chế tính linh hoạt trong huy động vốn. Việc chuyển nhượng vốn của thành viên hợp danh phải được tất cả thành viên hợp danh còn lại đồng ý (khoản 3 Điều 180); việc rút vốn của thành viên hợp danh phải thông báo trước 06 tháng bằng văn bản, chỉ được rút vào thời điểm kết thúc năm tài chính khi báo cáo tài chính đã được thông qua và phải tiếp tục liên đới chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ trước đó (khoản 2 Điều 185).
- Về quản trị và giải thể: Hội đồng thành viên là cơ quan quyền lực cao nhất gồm tất cả thành viên, nhưng quyền triệu tập họp thuộc về thành viên hợp danh. Chủ tịch Hội đồng thành viên đồng thời kiêm Giám đốc/Tổng giám đốc nếu Điều lệ không có quy định khác. Tất cả thành viên hợp danh đều là người đại diện theo pháp luật. Thủ tục giải thể áp dụng theo Điều 208; khi thanh toán nợ, nếu tài sản công ty không đủ thì các thành viên hợp danh phải dùng tài sản riêng để thanh toán.
-
Thực tiễn thực thi pháp luật:
Dựa trên dữ liệu từ Cục Quản lý đăng ký kinh doanh (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tác giả tổng hợp tình hình thành lập mới, giải thể và tạm ngừng kinh doanh giai đoạn 2015 – 10/2022:
| Năm |
Tình hình hoạt động |
Công ty TNHH 1 TV |
Công ty TNHH 2 TV |
Công ty Cổ phần |
Doanh nghiệp tư nhân |
Công ty Hợp danh |
Tổng số |
| 2015 |
Thành lập mới Giải thể Tạm ngừng |
48.362 3.948 5.861 |
25.060 2.668 5.435 |
18.071 1.381 2.711 |
3.245 1.467 1.642 |
16 6 2 |
94.754 9.467 15.649 |
| 2016 |
Thành lập mới Giải thể Tạm ngừng |
59.848 5.640 7.919 |
27.685 3.788 6.701 |
18.256 1.714 3.346 |
4.295 2.133 1.950 |
16 3 1 |
110.100 13.278 19.917 |
| 2017 |
Thành lập mới Giải thể Tạm ngừng |
73.181 5.242 9.234 |
29.380 3.455 6.882 |
21.161 1.603 3.665 |
3.120 1.816 1.900 |
17 3 3 |
126.859 13.113 21.684 |
| 2018 |
Thành lập mới Giải thể Tạm ngừng |
76.848 6.771 11.110 |
30.655 4.758 8.053 |
22.015 2.778 5.053 |
1.742 2.004 2.248 |
15 7 2 |
131.275 16.314 27.136 |
| 2019 |
Thành lập mới Giải thể Tạm ngừng |
82.571 7.241 12.316 |
29.947 4.408 8.385 |
24.173 2.441 5.955 |
1.442 1.742 2.073 |
6 4 2 |
138.139 16.840 28.731 |
| 2020 |
Thành lập mới Giải thể Tạm ngừng |
80.620 8.707 23.255 |
29.392 4.686 13.307 |
23.747 2.829 7.837 |
1.171 1.238 2.186 |
10 1 7 |
134.940 17.461 46.592 |
| 2021 |
Thành lập mới Giải thể Tạm ngừng |
71.082 8.289 28.492 |
23.264 4.146 15.000 |
21.544 3.084 9.297 |
945 1.220 2.166 |
4 2 5 |
116.839 16.741 54.960 |
| 10/2022 |
Thành lập mới Giải thể Tạm ngừng |
79.249 8.078 34.831 |
24.599 3.723 17.633 |
20.874 2.896 11.784 |
1.091 727 2.141 |
8 2 6 |
125.821 15.426 66.401 |
Số liệu trên cho thấy công ty hợp danh chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong bức tranh doanh nghiệp Việt Nam. Số lượng thành lập mới mỗi năm chỉ dao động từ 4 đến 17 đơn vị. Mặc dù vậy, tác giả cũng dẫn chứng một số mô hình công ty hợp danh hoạt động hiệu quả trong các lĩnh vực dịch vụ chuyên môn cao:
- Công ty Hợp danh Kiểm toán Việt Nam (CPA VIETNAM): Thành lập ngày 23/6/2004 theo Nghị định 105/2004/NĐ-CP (thay đổi lần 7 ngày 15/9/2010), vốn điều lệ 4 tỷ VNĐ, do ông Nguyễn Phú Hà làm Giám đốc; là thành viên đại diện Hãng kiểm toán Moore Stephens International Limited.
- Công ty Luật Hợp danh YKVN: Thành lập năm 1999 từ tiền thân là hãng luật White & Case (Hoa Kỳ), do Luật sư Trương Nhật Quang điều hành, có trụ sở tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh; 11 năm liên tục xếp hạng 1 trong các lĩnh vực hành nghề chủ chốt và 11 lần nhận danh hiệu "Công ty Luật Quốc gia của Năm".
- Các đơn vị khác: Công ty Luật Hợp danh Bross & Cộng sự, Công ty Hợp danh Kiểm toán và Tư vấn Tài chính Việt Nam, Công ty Hợp danh Dịch vụ Vận tải Đường bộ, Công ty Hợp danh Kiểm toán và Định giá VN.
Tác giả đánh giá nguyên nhân khiến công ty hợp danh ít được lựa chọn là do tâm lý e ngại trách nhiệm vô hạn, nhận thức xã hội chưa đầy đủ, thiếu cơ chế chuyển đổi loại hình đối với công ty luật hợp danh và sự thiếu đồng bộ giữa Luật Doanh nghiệp với các luật chuyên ngành (như Luật Luật sư).
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về công ty hợp danh ở Việt Nam
Trên cơ sở phân tích lý luận và thực trạng, tác giả đề xuất hai nhóm giải pháp:
-
Nhóm kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật:
- Làm rõ khái niệm và tách bạch bản chất mô hình: Tách công ty hợp danh thành hai loại hình riêng biệt tương đồng thông lệ quốc tế: công ty hợp danh vô hạn (chỉ gồm thành viên hợp danh) và công ty hợp danh hữu hạn / công ty hợp vốn đơn giản (gồm cả thành viên hợp danh và thành viên nhận vốn/góp vốn). Việc phân định này giúp minh bạch hóa tư cách chịu trách nhiệm với bên thứ ba và xử lý chính xác căn cứ giải thể bắt buộc (hiện nay luật quy định không đủ 02 thành viên hợp danh trong 06 tháng mới bị giải thể, chưa làm rõ hệ quả khi vắng mặt thành viên góp vốn).
- Điều chỉnh cơ chế thuế và xem xét tư cách pháp nhân: Đề xuất xây dựng quy chế thuế đặc thù cho công ty hợp danh nhằm tránh hiện tượng đánh thuế trùng lặp (thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân đối với phần lợi nhuận của thành viên hợp danh). Đồng thời, xem xét lại sự phù hợp giữa việc công nhận tư cách pháp nhân với quy định tại khoản 3 Điều 87 Bộ luật Dân sự năm 2015 về tính độc lập tài sản của pháp nhân.
- Mở rộng tư cách thành viên cho pháp nhân: Cho phép pháp nhân được trở thành thành viên công ty hợp danh (trước hết là thành viên góp vốn và tiến tới thành viên hợp danh theo kinh nghiệm của Pháp, Hoa Kỳ, Singapore) nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư và liên kết kinh doanh.
- Hoàn thiện cơ chế tổ chức lại và chuyển đổi loại hình: Xây dựng khung pháp lý rõ ràng cho việc chia, tách, hợp nhất, sáp nhập và chuyển đổi loại hình đối với các công ty hợp danh nghề nghiệp (như công ty luật hợp danh), bảo đảm tính thống nhất giữa Luật Doanh nghiệp và luật chuyên ngành.
-
Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi: Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp và người dân về ưu thế của công ty đối nhân; hoàn thiện cơ chế đăng ký và quản lý nhà nước; ban hành các chính sách khuyến khích, ưu đãi cụ thể đối với các ngành dịch vụ chuyên nghiệp áp dụng mô hình hợp danh.
Kết quả và đóng góp
- Kết quả nghiên cứu chính: Khóa luận đã hệ thống hóa đầy đủ khung lý luận về công ty đối nhân; làm rõ 4 đặc điểm pháp lý cốt lõi của công ty hợp danh theo Luật Doanh nghiệp năm 2020; cung cấp chuỗi dữ liệu thực tế 2015 – 10/2022 phản ánh thực trạng số lượng thành lập rất thấp (chỉ từ 4 đến 17 công ty mới mỗi năm); đồng thời khảo sát các điển hình thành công trong lĩnh vực kiểm toán và pháp lý (CPA VIETNAM, YKVN).
- Hệ thống kiến nghị, giải pháp: Đề xuất 4 nhóm kiến nghị lập pháp cụ thể (phân định hai mô hình hợp danh, xử lý vấn đề thuế trùng lặp và tư cách pháp nhân, cho phép pháp nhân tham gia thành viên, hoàn thiện cơ chế chuyển đổi loại hình) cùng các giải pháp nâng cao nhận thức xã hội và đồng bộ hóa pháp luật chuyên ngành.
- Đóng góp của khóa luận: Công trình đã phân tích toàn diện và có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về công ty hợp danh; chỉ ra được những điểm bất cập mang tính cấu trúc của pháp luật hiện hành (đặc biệt là mô hình "hai trong một" và mâu thuẫn lý luận giữa tư cách pháp nhân với trách nhiệm vô hạn); góp phần cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Khóa luận tập trung nghiên cứu trong phạm vi các quy định pháp luật thực định (chủ yếu là Luật Doanh nghiệp năm 2020, Bộ luật Dân sự năm 2015) và khảo sát thực tiễn tại một số công ty thuộc lĩnh vực luật và kiểm toán. Đề tài chưa đi sâu phân tích toàn diện các khía cạnh kinh tế vĩ mô, cơ chế tài chính nội bộ chi tiết cũng như các tranh chấp thương mại thực tế phát sinh tại Tòa án liên quan đến công ty hợp danh.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp tài sản nội bộ và tranh chấp với bên thứ ba trong công ty hợp danh; nghiên cứu chuyên sâu về mô hình công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn (LLP) theo kinh nghiệm quốc tế; hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Luật Doanh nghiệp và Luật Luật sư, Luật Kiểm toán độc lập trong việc tổ chức lại doanh nghiệp.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Doanh nghiệp, Luật Dân sự cần tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về mô hình công ty đối nhân.
- Các luật sư, kiểm toán viên, chuyên gia tư vấn pháp lý và nhà đầu tư có nhu cầu tìm hiểu điều kiện thành lập, quy chế quyền và nghĩa vụ của các loại thành viên, quy trình chuyển nhượng vốn, rút vốn và cơ chế chịu trách nhiệm tài sản của công ty hợp danh.
- Các phần đáng chú ý nhất để tham khảo gồm: Bảng số liệu thống kê tình hình doanh nghiệp 2015 – 10/2022 tại Chương 2; phân tích chi tiết quy chế pháp lý của thành viên hợp danh và thành viên góp vốn (Điều 177, 180, 185, 187 Luật Doanh nghiệp 2020); và các phân tích so sánh pháp luật quốc tế tại Chương 1.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo Luật Doanh nghiệp năm 2020, điều kiện về số lượng và tư cách của thành viên hợp danh được quy định như thế nào?
Theo điểm a và điểm b khoản 1 Điều 177 Luật Doanh nghiệp năm 2020, công ty hợp danh phải có ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (thành viên hợp danh). Thành viên hợp danh bắt buộc phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty.
2. Thành viên hợp danh bị pháp luật hạn chế những quyền kinh doanh cụ thể nào?
Theo Điều 180 Luật Doanh nghiệp năm 2020, thành viên hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác (trừ trường hợp được sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại); không được quyền nhân danh cá nhân hoặc nhân danh người khác thực hiện kinh doanh cùng ngành, nghề kinh doanh của công ty đó để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác; và không được chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp tại công ty cho người khác nếu không được sự chấp thuận của các thành viên hợp danh còn lại.
3. Thành viên hợp danh muốn rút vốn khỏi công ty cần đáp ứng những điều kiện gì?
Căn cứ khoản 2 Điều 185 Luật Doanh nghiệp năm 2020, thành viên hợp danh có quyền rút vốn nếu được Hội đồng thành viên chấp thuận. Thành viên phải thông báo bằng văn bản yêu cầu rút vốn chậm nhất 06 tháng trước ngày rút vốn; chỉ được rút vốn vào thời điểm kết thúc năm tài chính và báo cáo tài chính của năm tài chính đó đã được thông qua. Sau khi rút vốn, thành viên này vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty phát sinh trước thời điểm đăng ký chấm dứt tư cách thành viên.
4. Tại sao việc công nhận tư cách pháp nhân cho công ty hợp danh tại Việt Nam lại phát sinh bất cập về mặt lý luận và nghĩa vụ thuế?
Về lý luận, một trong những điều kiện cốt lõi của pháp nhân theo khoản 3 Điều 87 Bộ luật Dân sự năm 2015 là phải có tài sản độc lập và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình. Trong khi đó, thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản riêng đối với các khoản nợ của công ty. Về nghĩa vụ thuế, do có tư cách pháp nhân nên công ty hợp danh phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp; sau đó lợi nhuận phân chia cho thành viên hợp danh lại tiếp tục chịu thuế thu nhập cá nhân, dẫn đến tình trạng đánh thuế trùng lặp hai lần.
5. Tình hình đăng ký thành lập mới của công ty hợp danh tại Việt Nam trong giai đoạn 2015 – 10/2022 diễn biến ra sao?
Theo số liệu của Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, số lượng công ty hợp danh thành lập mới trong giai đoạn này rất thấp và có xu hướng giảm: năm 2015 có 16 công ty, năm 2016 có 16 công ty, năm 2017 có 17 công ty, năm 2018 có 15 công ty, năm 2019 giảm xuống 6 công ty, năm 2020 có 10 công ty, năm 2021 có 4 công ty và 10 tháng đầu năm 2022 có 8 công ty được thành lập mới.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Chí Hiếu đã làm rõ toàn diện cơ sở lý luận, tiến trình lịch sử và các đặc thù pháp lý của mô hình công ty hợp danh theo Luật Doanh nghiệp năm 2020. Dữ liệu thực tế giai đoạn 2015 – 10/2022 đã chứng minh thực trạng phát triển còn rất hạn chế của loại hình công ty đối nhân này tại Việt Nam. Các kiến nghị lập pháp về phân định rõ hai mô hình hợp danh, xử lý bất cập thuế trùng lặp, mở rộng tư cách thành viên cho pháp nhân và hoàn thiện cơ chế chuyển đổi loại hình là những luận cứ khoa học có giá trị thực tiễn đối với công tác hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp.