BỘ TƯ PHÁP TRUONG ĐẠI HỌC LUẬT HA NOI KỶ YEU HOI THẢO KHOA HỌC CAP KHOA THUC TRANG PHAP LUAT VE GOP VON BANG TAI SAN VAO DOANH NGHIEP VA MOT SO KIEN NGHI MỤC LỤC Tổng quan về góp vốn bang tài sản vào doanh nghiệp và pháp luật về góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp ThS. Trần Danh Phú Thực trạng pháp luật về góp vốn bằng tài sản chung của vợ chồng vào doanh nghiệp và một số kiến nghị 19 ThS. Trần Danh Phú ThS. Nông Thị Thoa Hoàn thiện quy định pháp luật về góp vốn vào doanh nghiệp băng quyền sử dụng đất tại việt nam 30 ThS.
Nguyễn Trịnh Ngọc Linh Vai trò của người lao động trong việc hình thành và quản trị tài sản vô hình tại doanh nghiệp 43 ThS. Tô Duy Kham Thủ tục góp von thành lập doanh nghiệp bằng tài sản thực tiễn tại một số doanh nghiệp ở Việt Nam 54 ThS.LS Hà Huy Phong Giải quyết tranh chấp về góp vốn băng tài sản vào doanh nghiệp thực tiễn tại TAND một số địa phương 68 ThS. Nguyễn Mai Vuong Pháp luật một số quốc gia trên thé giới về góp vốn bang tài san vào doanh nghiệp và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 78 ThS. Nguyễn Đức Anh Xác định giá trị tài sản góp vốn vào doanh nghiệp - thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện 87 ThS.
Trịnh Văn Tai Chuyên quyên sở hữu tài sản góp vôn vào doanh nghiệp và xử lý vi phạm vê nghĩa vụ chuyên quyền sở hữu tai sản góp vốn vào doanh nghiệp — thực tiễn. 100 thuc hién va mot so kién nghi TS. Nguyén Thi Yén Xử lý tư cách thành viên, tu cách cô đông trong trường hop vợ chong ly hôn - thực tiễn thực hiện và một số kiến nghị 111 TS. Nguyén Thi Yén ThS.LS Ha Huy Phong.
Sàn CHUYEN BE 1. TONG QUAN VE GOP VON BANG TAI SAN VAO DOANH NGHIEP VA PHAP LUAT VE GOP VON BANG TAI SAN VAO DOANH NGHIEP Ths. Tran Danh Phú — Phòng TỔ chức cán bộ Tóm tat: Góp von bang tài sản tạo nên tai sản ban dau và cũng là tài sản của một doanh nghiệp. Góp vốn chính là đưa tài sản của một hay các thành viên dé cho ra đời một doanh nghiệp cũng như đề doanh nghiệp có tài sản thực hiện các giao dịch thương mại.
Do vậy, việc tìm hiểu những van dé lý luận về góp vốn bang tài sản vào doanh nghiệp giúp hiểu rõ hơn về góp vốn bằng tài vào doanh nghiệp ở Việt Nam. Qua đó có thể khang định, vốn là một trong những yếu tô quan trọng quyết định tới sự ra đời, phát triển và sự tôn tại của doanh nghiệp. Từ khóa: góp vốn; tài sản góp vốn; góp vốn vào doanh nghiệp; góp vốn bằng tài sản; pháp luật góp vốn 1. Khái quát về góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp 1.
Bản chất của góp von bằng tài sản vào doanh nghiệp Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, bat kỳ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại phải có nguồn tài chính đủ mạnh, đây là một trong ba yếu tố bên cạnh yếu tố pháp lý, nhân lực để giúp doanh nghiệp có thé duy trì hoạt động của mình. Trong nền kinh tế thị trường, vốn là điều kiện đầu tiên có ý nghĩa quyết định sự phát triển của hoạt động kinh doanh, bởi không có doanh nghiệp nào tồn tại mà không cần đến vốn. Vốn là cơ sở cho việc hình thành nên các hoạt động khác của doanh nghiệp từ khi thành lập cho đến suốt quá trình hoạt động kinh doanh của minh. Dưới góc độ ngôn ngữ học, vốn là “tong thé nói chung những tài san bỏ ra lúc đầu, thường biểu hiện bằng tiền, dùng trong sản xuất kinh doanh, nói chung trong hoạt động sinh lợi”!.
Định nghĩa này cung cấp hình dung bước đầu về vốn, tuy chưa rõ ràng nhưng đã nêu được nguồn gốc của vốn là tổng thé những tai sản bỏ ra ban đầu và có chức năng là dùng trong sản xuất kinh doanh. Dưới góc độ kinh tế, xuất phát từ vai trò của von đỗi với hoạt động sản xuất kinh doanh, “von là toàn bộ lượng tiền cân thiết nhất định dé bắt dau và duy trì hoạt động san xuất kinh 'Từ điển Tiếng Việt (1998) Nxb Da Nẵng, trang 1087 doanh liên tục của các chủ thé kinh doanh”. Theo đó, vốn phải có trước khi diễn ra hoạt động sản xuất kinh doanh. Nói cách khác, vốn là toàn bộ số tiền phải đầu tư ứng trước cho kinh doanh.
Trong quá trình đầu tư sử dụng, vốn được thu hồi lại để đầu tư tiếp cho các quá trình kinh doanh tiếp theo. Nếu vốn kinh doanh bị giảm sút hoặc bi mất thì quy mô kinh doanh bị thu hẹp, hoạt động sản xuất kinh doanh bị ảnh hưởng xấu, thậm chí doanh nghiệp có thể lâm vào tình trạng phá sản. Dưới góc độ pháp lý, vốn là “tién, tai sản, quyén tài sản trị giá được bằng tiền có thé sử đụng trong kinh doanh ”. Định nghĩa trên đã chỉ ra vôn được hình thành từ tiên, tài sản, quyên tài sản trị giá được bằng tiền và mục đích để sử dụng trong kinh doanh, là tiền đề trong các hoạt động đầu tư.
Mỗi loại hình doanh nghiệp có những phương thức huy động vốn khác nhau. Công ty TNHH có thê huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu, vay tín dụng hoặc kêu gọi thêm chủ thé góp vốn, song lại bị giới hạn bởi số lượng chủ thé góp vốn. Trong khi đó công ty cô phan có khả năng huy động vốn lớn dưới nhiều phương thức như góp vốn, vay tin dụng, phát hành cổ phiếu, trái phiếu. mà không bị giới hạn số lượng cô đông.
Mặc dù pháp luật quy định các phương thức huy động vốn khác nhau nhưng vào thời điểm mới thành lập và ngay cả trong quá trình hoạt động, vốn góp là nguồn chủ yếu và quan trọng nhất đối với mọi loại hình doanh nghiệp. Ở nước ta, góp vốn được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau. Hiểu theo cách thông thường, góp von là việc một người hay một số người (tổ chức, cá nhân) theo quy định có quyền sử dụng tài sản đầu tư vào doanh nghiệp dé thực hiện các hoạt động kinh doanh nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Dưới góp độ pháp lý, có thé hiểu góp vốn là việc góp tài sản dé tạo thành vốn của doanh nghiệp, việc góp vốn này được thực hiện khi thành lập doanh nghiệp hoặc góp thêm vốn vào doanh nghiệp đã thành lập, và người góp vốn thực hiện chuyên giao quyền sở hữu tài sản góp vốn của mình cho doanh nghiệp (trừ doanh nghiệp tư nhân) dé đổi lại những lợi ích nhất định từ doanh nghiệp mà mình góp vốn.
Góp vốn vào doanh nghiệp có vai trò quan trọng, nhất là đối với giai đoạn doanh nghiệp mới được hình thành; đối với doanh nghiệp đã hoạt động kinh doanh, góp vốn cũng góp phần quyết định tới sự phát triển và tồn tại của doanh nghiệp. Với những quan niệm trên, có thé khang định góp vốn chính là việc đưa tài sản đầu tư hoặc đâu tư thêm vào doanh nghiệp đê tìm kiêm lợi nhuận. Do đó, khái niệm góp vôn và góp vôn 2 Từ điển Luật học (2006), Nxb Tư pháp & Nxb từ điển Bách Khoa, trang 857 4 bang tài sản vào doanh nghiệp được coi là khái niệm đồng nhất. Góp vốn được hiểu ở hai khía cạnh: Thứ nhất, góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp không những cho ra đời một doanh nghiệp mới mà còn tạo nên tài san kinh doanh cho doanh nghiệp Bat kì một loại hình doanh nghiệp nào muốn được thành lập thi góp vốn là điều kiện, yếu tố quan trọng không thê thiếu.
Góp vốn không những quyết định sự ra đời, mà còn thé hiện khả năng gánh chịu nghĩa vụ pháp lí của doanh nghiệp đó, đồng thời dé bảo vệ tốt lợi ích của doanh nghiệp cũng như lợi ích của người thứ ba có liên quan với doanh nghiệp. Sau khi hoàn thành thủ tục góp vốn, pháp luật công nhận sự tồn tại độc lập giữa tài sản của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp (trừ các doanh nghiệp không yêu cầu chuyên giao quyền sở hữu). Phần lớn các doanh nghiệp ở nước ta sau khi được chuyên giao quyền sở hữu tài sản từ chủ sở hữu, doanh nghiệp tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ liên quan tới tài sản đó, nghĩa là có năng lực hành vi, và có tài sản riêng bảo đảm cho việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, đối với doanh nghiệp tư nhân thì chủ sở hữu vẫn thực hiện các quyền này vì chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân không chuyên giao quyền sở hữu tài sản góp vốn. Việc góp vôn băng tài sản giúp doanh nghiệp tạo nên một khối tài sản riêng tách bạch, củng cố tính chất độc lập về tài sản của mình dé thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Thit hai, góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp vừa là nghĩa vụ nhưng cũng là quyền lợi của chủ sở hữu Khi xem góp vốn là nghĩa vụ, thì đây là nghĩa vụ của nhà đầu tư, khi nhà đầu tư cam kết hay thỏa thuận góp vốn thành lập doanh nghiệp là việc nhà đầu tư đã tự ràng buộc mình trở thành con nợ của doanh nghiệp. Khi nhà đầu tư góp tài sản vào doanh nghiệp, tài sản đó thuộc sở hữu của doanh nghiệp - một thực thé pháp lý độc lập. Nếu nhà dau tư không góp vốn hoặc góp vốn chậm thì doanh nghiệp có quyền đòi và với việc không thực hiện đúng nghĩa vụ thì tô chức cá nhân góp vốn sẽ phải chịu những trách nhiệm pháp lý nhất định. Khi xem góp vốn là quyền lợi, sau khi đã góp vốn băng tài sản vào doanh nghiệp, nhà đầu tư sẽ được hưởng những quyên lợi từ hành vi góp vốn.
Góp vốn tạo cho chủ sở hữu duy nhất hay cho các thành viên góp vốn được hưởng quyền lợi từ doanh nghiệp tương ứng mà mình đầu tư. Tuy nhiên, với doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu, các quyền lợi và nghĩa vụ của thành viên còn phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn hay số cổ phần mà mỗi thành viên đó nắm giữ trong doanh nghiệp. Bản chất của quan hệ góp vốn là sự hùn vốn giữa các thành viên với nhau và dẫn đến sự chi phối, chia sẻ lợi ích của những người cùng góp von. Việc góp von khi thành lập doanh nghiệp 5 là cơ sở tạo ra một thực thê pháp lý mới, đó là công ty.
Khi thực hiện góp vốn, các chủ sở hữu vốn chuyền giao quyền sở hữu của mình cho công ty để trở thành thành viên công ty và được nhận phan quyền lực trong công ty.