Quyền của người khuyết tật trong việc thành lập doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam

Luận văn thạc sĩ pháp luật doanh nghiệp phân tích quyền của người khuyết tật trong thành lập doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam.

Chuyên ngành

Luật kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ luật học

2018

81
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Quyền thành lập doanh nghiệp xã hội của người khuyết tật

Quyền thành lập doanh nghiệp là một trong những quyền cơ bản của công dân, được pháp luật Việt Nam bảo vệ. Đối với người khuyết tật, quyền này càng có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo cơ hội hòa nhập xã hội và phát triển kinh tế. Doanh nghiệp xã hội là mô hình kinh doanh kết hợp giữa mục tiêu xã hội và kinh tế, đặc biệt phù hợp với người khuyết tật. Theo pháp luật Việt Nam, người khuyết tật có quyền thành lập doanh nghiệp xã hội để giải quyết các vấn đề xã hội, tạo việc làm cho chính mình và cộng đồng. Tuy nhiên, việc thực hiện quyền này còn gặp nhiều rào cản về pháp lý và thực tiễn.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp xã hội

Doanh nghiệp xã hội là mô hình kinh doanh hướng đến giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường thay vì tối đa hóa lợi nhuận. Đặc điểm nổi bật của doanh nghiệp xã hội là sự kết hợp giữa mục tiêu xã hội và kinh tế. Theo pháp luật Việt Nam, doanh nghiệp xã hội phải cam kết sử dụng ít nhất 51% lợi nhuận để tái đầu tư cho mục tiêu xã hội. Điều này tạo cơ hội cho người khuyết tật tham gia vào hoạt động kinh tế, đồng thời đóng góp vào sự phát triển cộng đồng.

1.2. Quy định pháp luật về quyền thành lập doanh nghiệp xã hội

Pháp luật Việt Nam đã có những quy định cụ thể về quyền thành lập doanh nghiệp xã hội, đặc biệt là đối với người khuyết tật. Luật Doanh nghiệp 2014 và Nghị định 96/2015/NĐ-CP là hai văn bản pháp lý quan trọng quy định về điều kiện, thủ tục thành lập và hoạt động của doanh nghiệp xã hội. Tuy nhiên, các quy định này còn nhiều bất cập, chưa tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người khuyết tật trong việc thành lập và vận hành doanh nghiệp xã hội.

II. Thực trạng và thách thức trong việc thành lập doanh nghiệp xã hội của người khuyết tật

Mặc dù pháp luật Việt Nam đã công nhận quyền thành lập doanh nghiệp xã hội của người khuyết tật, thực tế cho thấy việc thực hiện quyền này còn gặp nhiều khó khăn. Các rào cản về thủ tục hành chính, thiếu nguồn lực tài chính và hạn chế trong tiếp cận thông tin là những thách thức lớn. Bên cạnh đó, sự thiếu hụt các chính sách hỗ trợ cụ thể từ Nhà nước cũng là nguyên nhân khiến nhiều người khuyết tật không thể hiện thực hóa quyền thành lập doanh nghiệp xã hội.

2.1. Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp xã hội cho người khuyết tật

Hiện nay, số lượng doanh nghiệp xã hội do người khuyết tật thành lập còn rất ít. Phần lớn các doanh nghiệp này hoạt động trong lĩnh vực thủ công, dịch vụ và nông nghiệp. Mặc dù đóng góp tích cực vào việc tạo việc làm và hỗ trợ cộng đồng, các doanh nghiệp này thường gặp khó khăn trong việc mở rộng quy mô và duy trì hoạt động do thiếu nguồn lực và sự hỗ trợ từ Nhà nước.

2.2. Những thách thức pháp lý và thực tiễn

Một trong những thách thức lớn nhất là sự thiếu đồng bộ trong các quy định pháp luật. Các quy định về doanh nghiệp xã hội còn chồng chéo, gây khó khăn trong việc thực hiện. Ngoài ra, người khuyết tật còn gặp khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn hỗ trợ và đào tạo kỹ năng quản lý doanh nghiệp. Sự thiếu hụt các chính sách hỗ trợ cụ thể từ Nhà nước cũng là nguyên nhân khiến nhiều người khuyết tật không thể hiện thực hóa quyền thành lập doanh nghiệp xã hội.

III. Giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Để thúc đẩy quyền thành lập doanh nghiệp xã hội của người khuyết tật, cần có những giải pháp đồng bộ từ phía Nhà nước và cộng đồng. Trong đó, việc hoàn thiện các quy định pháp luật, tăng cường hỗ trợ tài chính và đào tạo kỹ năng là những yếu tố then chốt. Bên cạnh đó, cần xây dựng các chính sách ưu đãi cụ thể để khuyến khích người khuyết tật tham gia vào hoạt động kinh tế thông qua mô hình doanh nghiệp xã hội.

3.1. Hoàn thiện quy định pháp luật

Cần sửa đổi, bổ sung các quy định về doanh nghiệp xã hội trong Luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành. Đặc biệt, cần có quy định cụ thể về các chính sách hỗ trợ dành riêng cho người khuyết tật, bao gồm ưu đãi thuế, hỗ trợ vốn và đào tạo kỹ năng quản lý. Đồng thời, cần đơn giản hóa thủ tục hành chính để tạo điều kiện thuận lợi cho người khuyết tật trong việc thành lập và vận hành doanh nghiệp xã hội.

3.2. Tăng cường hỗ trợ từ Nhà nước và cộng đồng

Nhà nước cần xây dựng các chương trình hỗ trợ cụ thể, bao gồm cung cấp nguồn vốn ưu đãi, đào tạo kỹ năng và tư vấn pháp lý cho người khuyết tật. Bên cạnh đó, cần khuyến khích sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ và cộng đồng trong việc hỗ trợ và phát triển các doanh nghiệp xã hội do người khuyết tật thành lập. Sự hợp tác giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng sẽ tạo nên một môi trường thuận lợi để người khuyết tật phát huy tiềm năng và đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ pháp luật doanh nghiệp quyền của người khuyết tật trong việc thành lập doanh nghiệp xã hội theo pháp luật việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Những vấn đề lý luận và các quy định pháp luật hiện hành về doanh nghiệp xã hội. Chương 2: Thực trạng về tổ chức hoạt động của doanh nghiệp xã hội cho người khuyết tật tại Việt Nam. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI 1. Lý luận về doanh nghiệp xã hội 1.

Khái niệm về doanh nghiệp xã hội Các cơ quan chính phủ ở châu Á có quan điểm rằng: “Doanh nghiệp xã hội là doanh nghiệp được thành lập nhằm tạo cơ hội đào tạo và việc làm cho các đối tượng yếu thế”.4 Trong khi đó, Chính phủ Anh có khái niệm về doanh nghiệp xã hội như sau: “Doanh nghiệp xã hội là một mô hình kinh doanh được thành lập nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội, và sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư cho mục tiêu đó hoặc cho cộng đồng, thay vì tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD)5: “Doanh nghiệp xã hội là những tổ chức hoạt động dưới nhiều hình thức pháp lý khác nhau, nhằm theo đuổi cả hai mục tiêu xã hội và kinh tế. Doanh nghiệp xã hội thường cung cấp các dịch vụ xã hội và việc làm cho các nhóm yếu thế ở cả thành thị và nông thôn. Ngoài ra, doanh nghiệp xã hội còn cung cấp các dịch vụ cộng đồng trên các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, môi trường”.6 Theo Tổ chức Hỗ trợ sáng kiến phục vụ cộng đồng (CSIP): “Doanh nghiệp xã hội là một khái niệm dùng để chỉ hoạt động của các doanh nhân xã hội dưới nhiều hình thức khác nhau tùy thuộc vào mục đích và điều kiện hoạt động cụ thể; doanh nghiệp lấy lợi ích xã hội làm mục 4 “ Truy cập tại: https://www.vn/sites/default/files/social-enterprise-in-vietnam-concept- context-policies” 5 “OECD: có mục đích là để tìm ra các chính sách phát triển kinh tế cùng phúc lợi của người dân.

Truy cập tại: https://vi.org/wiki/Tổ_chức_hợp_tác_và_phát_triển_kinh_tế” 6 “ Truy cập tại: https://www.vn/sites/default/files/social-enterprise-in-vietnam-concept- context-policies” 6 tiêu chủ đạo, được dẫn dắt bởi tinh thần doanh nhân nhằm đạt được cả mục tiêu xã hội, môi trường và kinh tế”.7 Doanh nghiệp xã hội là một tổ chức áp dụng các chiến lược thương mại để tối đa hóa sự cải thiện về phúc lợi của con người và môi trường - có thể bao gồm tối đa hóa tác động xã hội cùng với lợi nhuận cho các cổ đông bên ngoài. Các doanh nghiệp xã hội có thể được cấu trúc như một tổ chức vì lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận và có thể có hình thức (tùy thuộc vào quốc gia mà tổ chức đó tồn tại và các hình thức pháp lý có sẵn) của một tổ chức hợp tác, một doanh nghiệp xã hội, một công ty phúc lợi, một công ty sở hữu cộng đồng hoặc một tổ chức từ thiện. Điều khác biệt giữa các doanh nghiệp xã hội là sứ mệnh xã hội của họ là cốt lõi cho thành công của họ như là lợi nhuận tiềm năng. Đặc điểm cơ bản của doanh nghiệp xã hội - Thứ nhất là định hướng của doanh nghiệp: Việc kinh doanh luôn đề cập đến các vấn đề xã hội như: bảo vệ các giá trị văn hoá, tôn trọng các mối quan hệ xã hội, bảo vệ môi trường, cứu trợ, hiến tặng, quyên góp, trợ giúp cho người túng thiếu và giải quyết xung đột gia đình, cộng đồng., trực tiếp giải quyết các vấn đề này và góp phần nâng cao giá trị cho toàn xã hội.

Điều đó có nghĩa là các doanh nghiệp xã hội đóng góp vào việc bảo vệ và quảng bá những điều tốt đẹp và những giá trị xã hội, nhưng không phải là các “tổ chức từ thiện” hay "các tổ chức cứu trợ". - Thứ hai là mục tiêu xã hội: Doanh nghiệp xã hội mang đến những giá trị tốt đẹp cho toàn xã hội chính là lợi thế của họ so với các doanh nghiệp khác. Đó là những giá trị tốt đẹp thể hiện trong tình cảm giữa người với người, các quy tắc ứng xử, các chuẩn mực và 7 “ Truy cập tại: https://www.vn/sites/default/files/social-enterprise-in-vietnam-concept- context-policies.pdf” 7 đạo đức trong xã hội. Vì vậy, các doanh nghiệp xã hội luôn được người dân tôn trọng và ủng hộ cho các hoạt động của họ như cứu trợ, từ thiện, đóng góp để hỗ trợ người dân trong vùng thiên tai.

- Thứ ba là sở hữu xã hội: Cũng giống như các doanh nghiệp khác, doanh nghiệp xã hội tạo ra doanh thu đáng kể từ các hoạt động kinh doanh. Điều này gần giống với các doanh nghiệp sản xuất hoặc kinh doanh hoặc cả các tổ chức phi lợi nhuận hoặc doanh nghiệp với mục đích lợi nhuận. Tuy nhiên, các doanh nhân xã hội có quyền kinh doanh để bù đắp chi phí và phát triển các giá trị xã hội, không chỉ để tối đa hóa lợi nhuận. Do đó, họ cũng cần phải có một chiến lược hoạt động chung và chiến lược phát triển tổng thể khác về cơ bản so với một doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận.

Như vậy, các doanh nghiệp xã hội có phạm vi hoạt động khá rộng rãi và được kết nối với nhau với sự tham gia của nhiều đối tượng khác nhau. Sự tồn tại của nó liên quan đến các vấn đề xã hội và mục tiêu cơ bản của nó không phải là lợi nhuận mà là để bảo vệ và phát triển các giá trị xã hội, làm tăng thêm hệ số giá trị xã hội, chẳng hạn như giải quyết các vấn đề xã hội phức tạp mà các doanh nghiệp hoặc các tổ chức lợi nhuận không thực hiện vì họ không nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận. Các doanh nghiệp xã hội có chức năng độc lập nhưng phụ thuộc rất nhiều vào sự hỗ trợ của dư luận, chính phủ, cộng đồng và các bên liên quan khác. Từ những đặc điểm trên, quản lý doanh nghiệp xã hội có thể rất phức tạp vì phải đạt được các mục tiêu xã hội và tài chính trong khi các mục tiêu xã hội được ưu tiên cao nhất.

Các loại hình doanh nghiệp xã hội8 1. Doanh nghiệp xã hội phi lợi nhuận(Non-profit Social Enterprises) Các doanh nghiệp xã hội phi lợi nhuận thường hoạt động dưới hình thức các trung tâm, hiệp hội, quỹ, câu lạc bộ, nhóm tự nguyện/nhóm người khuyết tật, nhóm người sống với HIV/AIDS. Hầu hết các doanh nghiệp xã hội phi lợi nhuận được phát triển từ các Tổ chức phi chính phủ (NGO)9. Tuy hình thức khá giống với các tổ chức này nhưng các doanh nghiệp phi lợi nhuận lại đưa ra các giải pháp cạnh tranh cao để giải quyết nhu cầu xã hội cụ thể, thu hút vốn đầu tư từ các cá nhân và tổ chức vì tác động xã hội.

Các doanh nghiệp xã hội có thể được chia thành ba nhóm dựa trên phương thức hoạt động, mục tiêu xã hội và kinh phí: - Các doanh nghiệp xã hội cung cấp các dịch vụ và sản phẩm có hiệu quả cao trong việc giải quyết các vấn đề xã hội và phần lớn do một bên thứ ba tài trợ, thường là một nhà đầu tư cộng đồng hoặc xã hội. Nói cách khác, loại hình doanh nghiệp xã hội này là một nhân viên độc lập, tự làm chủ, xúc tác, kết nối và có trách nhiệm với xã hội. - Hoạt động kinh doanh nhằm mục đích đưa hàng hóa/dịch vụ công đến những người khó khăn nhất về kinh tế và dễ bị tổn thương không có điều kiện tiếp cận hoặc không có khả năng chi trả các dịch vụ ở mức giá bình thường. Mục tiêu của họ là đáp ứng nhu cầu và 8 “Nguyễn Đình Cung và cộng sự, 2012.

Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam - Khái niệm, bối cảnh và chính sách. Hà Nội” 9 “NGO: là một tổ chức không thuộc về bất cứ chính phủ nào. Mặc dù về mặt kỹ thuật, định nghĩa cũng có thể bao hàm các tổ chức phi lợi nhuận, thuật ngữ này thường giới hạn để chỉ các tổ chức xã hội và văn hoá mà mục tiêu chính không phải là thương mại. Một điểm nổi bật nhất của các tổ chức phi chính phủ là việc các tổ chức này tạo ra những hệ thống gắn kết và mạng lưới kết nối những cá nhân xuyên quốc gia.

Truy cập tại: https://vi.org/wiki/Tổ_chức_phi_chính_phủ” 9 quyền lợi của người đang bị bỏ qua bởi các mô hình và cơ chế kinh doanh hiện tại10. Doanh nghiệp xã hội không vì lợi nhuận (Not-for-profit Social Enterprises) Hầu hết các doanh nghiệp này được thành lập bởi các doanh nhân xã hội, ngay từ đầu, các doanh nghiệp này đã xác định rõ ràng sự kết hợp bền vững của xã hội với kinh tế. Lợi nhuận chủ yếu dành cho việc sử dụng tái đầu tư hoặc để mở rộng tác động xã hội của doanh nghiệp. Việc đưa ra các giải pháp sáng tạo và thúc đẩy thị trường để giải quyết các vấn đề xã hội và những thách thức về môi trường là một sự khởi đầu khác biệt từ các tổ chức từ thiện hoặc tổ chức truyền thông xã hội thường xuyên.

Các doanh nghiệp xã hội phi lợi nhuận thường đăng ký dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn được hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Lý do để các doanh nghiệp này đăng ký hoạt động như một công ty vì họ không muốn xã hội nghĩ họ “ăn xin” trong quỹ từ thiện của cộng đồng. Họ tạo ra giá trị vật chất từ những hàng hoá và dịch vụ phong phú mà họ cung cấp cho cộng đồng. Ngoài ra, làm việc như các công ty giúp họ tiếp cận nhiều cơ hội kinh doanh và vốn khác nhau hơn là hoạt động từ thiện.

Tuy nhiên, do theo đuổi sứ mệnh đặc biệt nên các doanh nghiệp xã hội này phải đối mặt với một số thách thức cụ thể so với các doanh nghiệp thông thường khác: - Các mục tiêu xã hội không cho phép họ "tối đa hoá" lợi nhuận dưới bất kỳ hình thức nào. Vì vậy, "tối ưu hóa" lợi nhuận là phương châm hoạt động của các doanh nghiệp này. Ngoài những chi phí kinh doanh như doanh nghiệp thông thường, doanh nghiệp xã hội phải chi tiêu lớn cho "chi phí xã hội". Do tính chất "hỗn hợp", các doanh “Elkington J.

Sức mạnh của những người phi lý. Nhà xuất bản Lao động - Xã hội 10 10 nghiệp xã hội thường có nguồn vốn đầu tư đa dạng như các khoản vay ưu đãi dưới hình thức các khoản vay lãi suất thấp, cổ tức xã hội, hoặc các khoản tài trợ không hoàn lại. Tuy nhiên, không có quy định rõ ràng về việc nhận các khoản trợ cấp và các khoản vay ưu đãi từ các nhà đầu tư xã hội đang làm cho các doanh nghiệp bối rối do giải thích thuế và kế toán doanh nghiệp. - Các doanh nhân xã hội áp dụng một thước đo hiệu suất khác với doanh nghiệp điển hình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Quyền thành lập doanh nghiệp xã hội của người khuyết tật theo pháp luật Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quyền lợi và cơ hội mà người khuyết tật có thể tận dụng để tham gia vào hoạt động kinh doanh xã hội. Tài liệu nhấn mạnh các quy định pháp luật liên quan, giúp người đọc hiểu rõ hơn về quy trình thành lập doanh nghiệp xã hội, cũng như những hỗ trợ mà nhà nước cung cấp cho nhóm đối tượng này. Điều này không chỉ nâng cao nhận thức về quyền lợi của người khuyết tật mà còn khuyến khích họ tham gia tích cực vào thị trường lao động, từ đó cải thiện đời sống và tạo ra giá trị cho xã hội.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo các tài liệu như Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về đăng ký doanh nghiệp và thực tiễn áp dụng tại tỉnh lạng sơn, nơi cung cấp thông tin chi tiết về quy trình đăng ký doanh nghiệp, hoặc Luận văn thạc sĩ vai trò của nhân viên công tác xã hội cấp cơ sở trong việc thực hiện chế độ chính sách cho người khuyết tật tại hà nội, tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của công tác xã hội trong việc hỗ trợ người khuyết tật. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho người khuyết tật vận động qua các hoạt động trợ giúp của công tác xã hội nghiên cứu trường hợp trường trung cấp kinh tế du lịch hoa sữa, để tìm hiểu về các chương trình đào tạo nghề cho người khuyết tật. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các khía cạnh liên quan đến doanh nghiệp xã hội và người khuyết tật.