Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam hiện có khoảng 6% dân số là người khuyết tật, tương đương hơn 6,2 triệu người đang đối mặt với nhiều rào cản xã hội. Theo các khảo sát thực tế, có đến 80% người khuyết tật tại khu vực thành thị và 70% tại khu vực nông thôn phải sống phụ thuộc vào gia đình, người thân cùng các khoản trợ cấp xã hội ít ỏi; khoảng 24% đang sinh sống trong các căn nhà tạm bợ và 10% thuộc diện hộ nghèo. Đáng chú ý, có 75% người khuyết tật trong độ tuổi lao động vẫn tích cực tham gia hoạt động kinh tế, trong đó 42% phải tự xoay xở tạo việc làm để mưu sinh.

Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chuyển hóa người khuyết tật từ nhóm đối tượng nhận trợ cấp thụ động trở thành những chủ thể kinh tế độc lập, tự chủ. Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2014 lần đầu tiên ghi nhận khái niệm doanh nghiệp xã hội tại Điều 10, mở ra một hành lang pháp lý mới để giải quyết các vấn đề an sinh xã hội dựa trên cơ chế thị trường.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là phân tích toàn diện khung pháp lý hiện hành về quyền thành lập và vận hành doanh nghiệp xã hội của người khuyết tật tại Việt Nam. Đề tài tập trung chỉ rõ những bất cập giữa quy định lý thuyết và thực tiễn thực thi, từ đó kiến nghị các giải pháp lập pháp mang tính đột phá nhằm bảo đảm quyền bình đẳng kinh doanh cho người yếu thế. Phạm vi nghiên cứu bao quát quá trình phát triển chính sách từ giai đoạn Đổi mới năm 1986 đến năm 2018 tại Việt Nam, kết hợp so sánh với hệ thống pháp luật của một số quốc gia phát triển như Vương quốc Anh và Hoa Kỳ. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi hướng tới mục tiêu tối ưu hóa tỷ lệ tái đầu tư 51% lợi nhuận vào việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho hơn 6 triệu người khuyết tật trên cả nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng hệ thống phân tích dựa trên sự kết hợp của nhiều nền tảng lý thuyết kinh tế - pháp lý hiện đại. Trọng tâm là Lý thuyết doanh nhân xã hội do Freer Spreckley khởi xướng từ năm 1981, khẳng định doanh nghiệp có thể cân bằng hài hòa giữa trách nhiệm xã hội và tính bền vững tài chính mà không thuần túy chạy theo tối đa hóa lợi nhuận. Đồng thời, nghiên cứu ứng dụng Thuyết quyền năng xã hội để luận giải quyền tiếp cận bình đẳng của nhóm người yếu thế đối với các nguồn lực sản xuất, đất đai và cơ hội gia nhập thị trường.

Bên cạnh đó, tác giả phân tích sâu sắc mối quan hệ giữa các khái niệm pháp lý cốt lõi:

  • Doanh nghiệp xã hội: Tổ chức kinh doanh đáp ứng các tiêu chuẩn pháp lý tại Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014, có mục tiêu hoạt động hướng tới giải quyết các vấn đề cộng đồng, môi trường và cam kết sử dụng tối thiểu 51% tổng lợi nhuận hàng năm để tái đầu tư.
  • Người khuyết tật: Theo chuẩn mực của Tổ chức Y tế Thế giới và Đạo luật ADA năm 1990 của Hoa Kỳ, đây là những cá nhân bị suy giảm cấu trúc cơ thể, tâm lý hoặc sinh lý dẫn đến hạn chế trong sinh hoạt và lao động.
  • Pháp nhân thương mại và phi thương mại: Đối chiếu ranh giới giữa Điều 75 và Điều 76 Bộ luật Dân sự năm 2015 nhằm làm rõ bản chất lai ghép độc thọai của doanh nghiệp xã hội.
  • Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Phân biệt rõ bản chất của một mô hình kinh doanh độc lập với hành vi tự nguyện đóng góp từ thiện của các doanh nghiệp truyền thống.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích quy phạm pháp luật kết hợp phương pháp so sánh luật học để đối chiếu các văn bản pháp luật Việt Nam với Đạo luật chống phân biệt đối xử với người khuyết tật DDA của Anh và Đạo luật người khuyết tật Hoa Kỳ ADA. Nguồn dữ liệu pháp lý sơ cấp bao gồm hơn 50 văn bản luật, nghị định, thông tư chuyên ngành từ năm 1986 đến năm 2018, tiêu biểu như Luật Doanh nghiệp năm 2014, Nghị định số 96/2015/NĐ-CP, Thông tư số 04/2016/TT-BKHĐT, cùng các chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp tại Thông tư số 96/2015/TT-BTC và Thông tư số 78/2014/TT-BTC.

Về dữ liệu thực nghiệm, tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu điển hình, phân tích chuyên sâu các mô hình doanh nghiệp xã hội tiêu biểu tại Việt Nam, đặc biệt là trường hợp của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thủ công Mai với mạng lưới liên kết 21 nhóm sản xuất, tạo sinh kế cho hơn 1.100 thợ thủ công nghèo và người khuyết tật. Việc lựa chọn phương pháp này cho phép nhận diện chính xác những vướng mắc phát sinh từ thực tiễn ký kết hợp đồng, tiếp nhận tài trợ quốc tế với quy mô ODA cam kết từng đạt 31 tỷ USD giai đoạn 2005-2010, và quá trình chuyển đổi thể chế kinh tế từ thời kỳ bao cấp đến kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã đưa ra bốn phát hiện mang tính then chốt về thực trạng pháp lý và cơ chế hoạt động của doanh nghiệp xã hội dành cho người khuyết tật:

Thứ nhất, tồn tại sự mâu thuẫn sâu sắc về mặt định danh pháp lý. Luật Doanh nghiệp năm 2014 buộc doanh nghiệp xã hội phải đăng ký dưới một trong bốn hình thức doanh nghiệp truyền thống là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh hoặc doanh nghiệp tư nhân, đồng nghĩa với việc mặc định chúng là pháp nhân thương mại theo Điều 75 Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, theo Điều 76 Bộ luật Dân sự năm 2015, doanh nghiệp xã hội với cam kết bắt buộc giữ lại ít nhất 51% tổng lợi nhuận để phục vụ sứ mệnh an sinh lại mang đầy đủ bản chất của một pháp nhân phi thương mại.

Thứ hai, cơ chế huy động vốn và tiếp nhận viện trợ còn gặp nhiều nút thắt hành chính. Mặc dù Điểm c Khoản 2 Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014 cho phép doanh nghiệp xã hội huy động tài trợ trong và ngoài nước để bù đắp chi phí vận hành, các thủ tục tiếp nhận viện trợ phi chính phủ theo Nghị định số 96/2015/NĐ-CP vẫn chịu sự điều chỉnh của hệ thống quy định quản lý nguồn thu ngân sách phức tạp như Thông tư số 225/2010/TT-BTC, gây trì trệ dòng vốn hỗ trợ.

Thứ ba, người khuyết tật chịu thiệt thòi lớn về năng lực gia nhập thị trường. Thống kê chỉ ra rằng 41% người khuyết tật từ 6 tuổi trở lên không biết chữ và 93% người từ 16 tuổi trở lên hoàn toàn không có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Khi đứng ra thành lập doanh nghiệp, họ gặp rào cản nghiêm trọng trong việc tiếp cận các gói hỗ trợ kỹ thuật hay ưu đãi thuế suất 10% trong 15 năm và chính sách miễn thuế 4 năm, giảm 50% trong 9 năm tiếp theo quy định tại Thông tư số 96/2015/TT-BTC.

Thứ tư, thiếu hụt mô hình phân loại và cơ quan điều phối chuyên biệt. So với kinh nghiệm quốc tế tại Anh, nơi có cơ quan quản lý riêng cho hơn 70.000 doanh nghiệp xã hội đóng góp hơn 24 tỷ bảng Anh và tạo việc làm cho hơn 2 triệu lao động, Việt Nam chưa có hệ thống đánh giá tác động xã hội độc lập để bảo vệ các doanh nghiệp thực chất trước nguy cơ bị lạm dụng danh nghĩa để trục lợi chính sách.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện trên phản ánh tư duy lập pháp truyền thống ở nước ta vẫn còn nặng tính duy lợi, coi việc tìm kiếm lợi nhuận tối đa là thuộc tính bắt buộc của chủ thể kinh doanh.

Để minh họa trực quan sự khác biệt, dữ liệu phân tích có thể được cấu trúc qua bảng so sánh đa chiều giữa ba loại hình: Doanh nghiệp xã hội phi lợi nhuận, Doanh nghiệp xã hội không vì lợi nhuận, và Doanh nghiệp có định hướng xã hội tạo lợi nhuận. Sự phân bổ nguồn lực cũng có thể được mô phỏng sinh động qua biểu đồ cơ cấu lợi nhuận, trong đó chỉ rõ 51% dòng tiền bắt buộc phục vụ mục tiêu cộng đồng và 49% còn lại phân bổ cho các nhà đầu tư để duy trì tính cạnh tranh thương mại.

Sự thiếu đồng bộ giữa các quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư và pháp luật về thuế đã biến quyền thành lập doanh nghiệp xã hội của người khuyết tật thành một quyền mang tính hình thức, thiếu vắng các công cụ bảo đảm thực thi trên thực tế.

Đề xuất và khuyến nghị

Để biến các quyền luật định thành công cụ an sinh hữu hiệu, luận văn đề xuất bốn nhóm giải pháp mang tính chiến lược:

Thứ nhất, sửa đổi Luật Doanh nghiệp và Bộ luật Dân sự nhằm luật hóa doanh nghiệp xã hội thành một loại hình pháp nhân đặc thù độc lập, giải quyết triệt để sự xung đột giữa pháp nhân thương mại và phi thương mại. Cơ quan chủ quản cần ban hành quy chế đăng ký tinh gọn, cắt giảm 50% thời gian thụ lý hồ sơ đối với các sáng lập viên là người khuyết tật trong giai đoạn 2019-2021.

Thứ hai, nới lỏng cơ chế tài chính và đơn giản hóa thủ tục tiếp nhận tài trợ phi chính phủ. Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần phối hợp ban hành thông tư liên tịch hướng dẫn cơ chế hạch toán viện trợ không hoàn lại, đồng thời tự động áp dụng mức thuế suất ưu đãi 10% trong 15 năm cho 100% doanh nghiệp xã hội do người khuyết tật làm chủ trong 3 năm đầu vận hành.

Thứ ba, thành lập Cơ quan chuyên trách quản lý và phát triển doanh nghiệp xã hội trực thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, học tập mô hình Quản trị viên Công ty Lợi ích Cộng đồng CIC của Vương quốc Anh. Thiết chế này có nhiệm vụ giám sát tỷ lệ tái đầu tư 51% lợi nhuận, đồng thời cấp chứng nhận tác động xã hội để doanh nghiệp thuận lợi tiếp cận các gói tín dụng ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách Xã hội.

Thứ tư, đẩy mạnh các chương trình trợ giúp pháp lý và đào tạo kỹ năng quản trị kinh doanh cho người khuyết tật. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ lao động khuyết tật có chuyên môn kỹ thuật từ mức 7% hiện tại lên 30% trong vòng 5 năm thông qua sự phối hợp giữa Ủy ban Quốc gia về người khuyết tật Việt Nam và các tổ chức xã hội như Mạng lưới Doanh nghiệp Xã hội Việt Nam.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật và thực tiễn giá trị dành cho các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan hoạch định chính sách và cơ quan lập pháp: Cung cấp luận cứ khoa học để Bộ Tư pháp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hoàn thiện các văn bản dưới luật, sửa đổi Luật Doanh nghiệp và xây dựng chính sách trợ cấp xã hội hiệu quả.
  • Các doanh nhân xã hội và cá nhân người khuyết tật: Hướng dẫn cẩm nang pháp lý về quy trình thành lập, quyền tiếp nhận viện trợ và phương thức tận dụng các chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp để phát triển kinh doanh bền vững.
  • Các tổ chức phi chính phủ và quỹ đầu tư tác động xã hội: Hỗ trợ các tổ chức như Quỹ TYM, Tổ chức CEP hay Tổ chức CSIP trong việc thiết kế các chương trình tài chính vi mô, cung cấp nguồn vốn hạt giống và chuyển giao kỹ thuật cho nhóm đối tượng yếu thế.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và sinh viên luật kinh tế: Đóng vai trò là nguồn học liệu chuyên sâu phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu so sánh pháp luật về chủ thể kinh doanh và quyền con người trong nền kinh tế thị trường.

Câu hỏi thường gặp

Doanh nghiệp xã hội có được phép phân chia lợi nhuận cho các thành viên góp vốn hay không?
Theo Điểm c Khoản 1 Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014, doanh nghiệp xã hội bắt buộc phải sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hàng năm để tái đầu tư vào mục tiêu xã hội. Tối đa 49% lợi nhuận còn lại hoàn toàn có thể được dùng để chi trả cổ tức cho các nhà đầu tư nhằm thu hút nguồn vốn xã hội hóa.

Doanh nghiệp xã hội của người khuyết tật được hưởng các ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp cụ thể nào?
Theo Thông tư số 96/2015/TT-BTC, nếu thực hiện các dự án nghiên cứu hoặc hoạt động trong lĩnh vực hỗ trợ người yếu thế, doanh nghiệp được áp dụng thuế suất ưu đãi 10% trong 15 năm, được miễn thuế tối đa 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo kể từ khi phát sinh thu nhập chịu thuế.

Sự khác nhau cốt lõi giữa doanh nghiệp xã hội và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là gì?
Doanh nghiệp xã hội là một mô hình kinh doanh độc lập lấy sứ mệnh giải quyết vấn đề cộng đồng làm mục tiêu cốt lõi ngay từ khi thành lập. Trong khi đó, trách nhiệm xã hội là hoạt động tự nguyện, đóng vai trò như một chuẩn mực đạo đức hoặc công cụ xây dựng thương hiệu của các doanh nghiệp truyền thống.

Tại sao Việt Nam cần nghiên cứu mô hình Công ty Lợi ích Cộng đồng CIC của Anh?
Mô hình CIC của Anh quản lý hiệu quả hơn 70.000 doanh nghiệp xã hội nhờ thiết chế pháp lý riêng biệt và cơ chế giám sát khóa tài sản chặt chẽ. Việc áp dụng mô hình này giúp Việt Nam giải quyết tình trạng lúng túng khi xếp doanh nghiệp xã hội chung với các công ty thương mại thuần túy.

Người khuyết tật gặp khó khăn lớn nhất nào khi đứng tên thành lập doanh nghiệp xã hội?
Rào cản lớn nhất nằm ở trình độ học vấn và kỹ năng chuyên môn khi có tới 41% người khuyết tật không biết chữ và 93% chưa qua đào tạo nghề, đi kèm với thủ tục hành chính phức tạp trong việc tiếp nhận các nguồn tài trợ và viện trợ phi chính phủ.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về doanh nghiệp xã hội và khẳng định quyền kinh doanh chính đáng của người khuyết tật theo chuẩn mực pháp lý quốc tế.
  • Phân tích sắc bén những khoảng trống trong Luật Doanh nghiệp năm 2014, chỉ ra xung đột pháp lý giữa quy chế pháp nhân thương mại và mục tiêu hoạt động phi lợi nhuận.
  • Đánh giá thực trạng đời sống của hơn 6,2 triệu người khuyết tật tại Việt Nam, chứng minh doanh nghiệp xã hội là giải pháp sinh kế bền vững thay thế cho cơ chế trợ cấp xã hội truyền thống.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện bao gồm: hoàn thiện luật pháp, cải cách thể chế tài chính, thành lập cơ quan chuyên trách quản lý doanh nghiệp xã hội và đẩy mạnh đào tạo nghề.
  • Nghiên cứu mở ra lộ trình lập pháp cấp thiết trong việc bảo đảm quyền tự do kinh doanh bình đẳng, kêu gọi các nhà hoạch định chính sách nhanh chóng hoàn thiện khung pháp lý để thúc đẩy các mô hình kinh doanh nhân văn phát triển mạnh mẽ.