Đặt vấn đề (Tín cấp t iết của đề tài) Lịch sử phát triển nhân loại cho thấy, ở bất cứ thời kỳ nào, với bất kể trình độ phát triển ra sao bao giờ cũng nảy sinh các vấn đề xã hội cùng với các nhóm xã hội yếu thế cần phải được quan tâm giúp đỡ. Các vấn đề xã hội là hậu quả trực tiếp của quá trình phát triển kinh tế, xã hội. Các vấn nảy sinh cũng giống như những căn bệnh của một thực thể xã hội. Xã hội ngày càng phát triển song hành với các chiến lược phát triển kinh tế thì những chủ trương chính sách phát triển xã hội thông qua các chính sách đảm bảo đời sống an sinh xã hội của người dân cũng ngày càng được chú trọng.
Để đạt được các mục tiêu công nghiệp hóa- hiện đại hóa giải quyết các vấn đề xã hội chúng ta cần phải chuyên môn hóa các hoạt động nghề nghiệp. CTXH đã ra đời đáp ứng nhu cầu xã hội phát triển và có vai trò quan trọng trong đời sống, bảo vệ quyền con người, nâng cao chất lượng cuộc sống tinh thần của cá nhân và gia đình. CTXH ra đời góp phần hình thành những giải pháp cho các hậu quả tiêu cực tất yêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đó là sự thay đổi trong cấu trúc và khủng hoảng gia đình, khoảng cách giàu nghèo, trẻ em lang thang, người già cô đơn, các tệ nạn xã hội mại dâm, ma túy.
CTXH phát triển góp phần thực hiện hiệu quả công bằng xã hội, giải quyết vấn đề nghèo đói và các vấn đề xã hội phức tạp khác mà nước ta cũng như các nước đang phát triền trên thế giới phải đối mặt. Việt Nam đang bước vào giai đoạn hội nhập mạnh mẽ với thế giới trên nhiều phương diện và lĩnh vực. Trong đó, không thể không kể đến công cuộc phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, đấu tranh chống lại bất bình đẳng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống cho mọi tầng lớp dân cư và sự chung tay của Việt Nam trong lộ trình thúc đẩy quyền lợi và khả năng hỗ trợ cho NKT. Ngày 13/12/2006, Đại hội đồng Liên hiệp quốc chính thức thông qua Nghị quyết về Công ước Quốc tế về các quyền của NKT.
Việt Nam là thành viên thứ 118 tham gia ký Công ước vào ngày 22 tháng 10 năm 2007. Và từ đó đến nay, Việt Nam đã triển khai nhiều chiến lược 5 z hành động ở các cấp độ khác nhau nhằm theo đuổi mục tiêu “Xóa bỏ rào cản để tạo ra một xã hội hòa nhập và tiếp cận cho tất cả” Tuy vậy, hiện nay, NKT đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ nhằm nâng cao chất lượng sống, nâng cao năng lực, tạo thuận lợi cho việc hòa nhập cộng đồng. Để những mục tiêu tốt đẹp và to lớn trên được triển khai một cách hệ thống, khoa học và hiệu quả bên cạnh việc ban hành các chính sách thì nâng cao vai trò của đội ngũ nhân viên CTXH là chìa khóa tối ưu cung cấp một giải pháp bền vững. Sứ mệnh của nghề công tác xã hội (CTXH) đã được hiệp hội Nhân viên công tác xã hội Quốc tế xác định vào tháng 7/2000: ".Nghề CTXH thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực và giải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu.Nếu như trên thế giới, CTXH là một ngành không thể thiếu trong xã hội hiện đại thì ở Việt Nam dù phát triển sau nhưng CTXH hiện cũng đã và đang là một trong những ngành nghề quan trọng của xã hội.
Tháng 3/2010, Đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010 - 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và có hiệu lực triển khai từ 10/5/2010. Mục tiêu chung của Đề án là phát triển CTXH thành một nghề ở Việt Nam. Từ đây, vai trò của nhân viên CTXH cũng dần được công nhận. CTXH từ lâu đã là một lĩnh vực trong hệ thống chính quyền với danh nghĩa là ngành Lao động thương binh xã hội.
Ở chính quyền cơ sở là công chức văn hóa xã hội phụ trách mảng lao động thương binh xã hội. Tuy chưa thể hiện rõ vai trò của nhân viên CTXH chuyên nghiệp nhưng cán bộ lao động thương binh xã hội ở địa phương đã thực hiện một phần rất quan trọng cho các đối tượng yếu thế trong xã hội, trong đó có NKT, đó là công tác thực thi chính sách bảo trợ xã hội. Ở chính quyền cơ sở, hiện nay đã có chức danh công chức văn hóa xã hội- phụ trách văn hóa và lao động thương binh xã hội của bên cạnh 5 chức danh công chức khác phụ trách tham mưu và thực hiện các lĩnh vực chuyên môn trong đời sống kinh tế xã hội 6 z của địa phương. Điều này khẳng định vai trò của nhân viên CTXH là rất quan trọng.
Để có được những thành tựu trong hoạt động chăm sóc NKT tại địa phương, có rất nhiều ngành nghề tham gia, trong đó có công tác xã hội. Vậy nhu cầu của chính quyền cơ sở về vai trò của nhân viên CTXH hiện nay như thế nào? Thực tế hiện nay nhân viên CTXH trong chính quyền cơ sở đã làm được những gì? Những đối tượng hưởng lợi đánh giá như thế nào về vai trò của nhân viên CTXH? Trước những câu hỏi đó, nhu cầu phát triển đội ngũ CTXH cấp cơ sở là vô cùng cần thiết. Vì vậy cần có những nghiên cứu về hoạt động của đội ngũ này để có những giải pháp khắc phục hạn chế, nâng cao hiệu quả và nhân rộng. Với mục đích nhân rộng sự giúp đỡ đối với NKT , tôi đã lựa chọn đề tài “Vai trò của nhân viên công tác xã hội cấp cơ sở trong việc thực hiện chế độ chính sách cho NKT tại Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu.
Tổn quan vấn đề n i n cứu Nghiên cứu về hoạt động của nhân viên CTXH ở cấp cơ sở chưa có nhiều, tuy nhiên, vai trò của nhân viên CTXH trong việc trợ giúp đối tượng là NKT đã có rất nhiều. Ở mỗi một đề tài, bài nghiên cứu các tác giả thường nghiên cứu ở một góc cạnh, góc nhìn khác nhau. Dù nghiên cứu theo những góc độ nào thì các đề tài nghiên cứu đều nhằm nêu bật những biểu hiện, đặc điểm tâm sinh lý của NKT, đưa ra hệ thống các biện pháp nâng cao nhận thức cộng đồng về chăm sóc và hỗ trợ NKT. Cụ thể bao gồm những đề tài nghiên cứu điển hình như: Năm 2010, tác giả Nguyễn Ngọc Toản có đề tài nghiên cứu về “Chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên ở cộng đồng Việt Nam” Luận án đã bổ sung lý luận về chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng ở Việt Nam, trong đó đưa ra khái niệm trợ giúp xã hội toàn diện bao gồm cả vai trò của Nhà nước và xã hội.
Quan điểm này khác so với quan niệm trước vốn cho rằng trợ giúp xã hội là sự giúp đỡ của xã hội, chưa đề cập đến vai trò của Nhà nước. 7 z Luận án đưa ra 7 nguyên tắc chính sách trong đó bổ sung 4 nguyên tắc mới (bảo đảm tính hiệu lực, bảo đảm tính hiệu quả, bảo đảm tính công bằng, bảo đảm sự ổn định bền vững); 3 nhóm nhân tố ảnh hưởng chính sách (liên quan tới đối tượng hưởng lợi, cơ chế, công cụ chính sách, và các lực lượng chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội); bổ sung 6 ch tiêu đánh giá chính sách ,t lệ bao phủ so với dân số, t lệ bao phủ so với đối tượng bảo trợ xã hội, t lệ đối tượng chưa được hưởng chính sách, t lệ đối tượng thay đổi cuộc sống sau hưởng chính sách, khoảng cách bình quân mức trợ giúp xã hội, mức độ tương quan với các chính sách khác để đánh giá về hiệu lực, hiệu quả, công bằng, bền vững, tính kinh tế của chính sách. Các đóng góp này góp phần hoàn thiện cơ sở chính sách và khắc phục những hạn chế trong quan niệm trợ giúp xã hội, làm cơ sở phân tích đánh giá hệ thống chính sách Việt Nam giai đoạn hiện nay và đề xuất các giải phát hoàn thiện giai đoạn tới. Những phát hiện, đề xuất mới rút ra được từ kết quả nghiên cứu, khảo sát của luận án: Kết quả nghiên cứu phát hiện nhu cầu trợ giúp xã hội tương đối đông, tính chung 16,22% dân số cần trợ giúp xã hội.
Các nhu cầu được trợ giúp (đời sống, sức khoẻ, giáo dục…) là khác nhau, tuỳ thuộc vào mỗi nhóm đối tượng cụ thể. Các công cụ chính sách được quy định đồng bộ (bao gồm trợ cấp xã hội, trợ giúp giáo dục, y tế), và tính hiệu quả của chính sách ngày càng cao theo thời gian. Tuy nhiên, tính hiệu lực, hiệu quả, tính công bằng và bền vững của chính sách còn chưa đảm bảo (mới bao phủ 1,45% dân số, 12,2% thuộc diện chưa được hưởng chính sách, 32% đối tượng, 55% cán bộ chưa thật sự hài lòng với chính sách). Từ kết quả này, luận án đưa ra một số định hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng ở Việt Nam, bao gồm: Thứ nhất, định hướng đổi mới chính sách: Chuyển từ quan điểm chính sách nhân đạo sang chính sách bảo đảm thực hiện quyền cho đối tượng hưởng lợi, đồng thời phải bảo đảm sự tương đồng với các chính sách xã hội khác trên cơ sở phát triển kinh tế – xã hội và cải cách thể chế hành chính.
Thứ hai, các giải pháp cụ thể: Mở rộng đối 8 z tượng hưởng lợi nhằm bao phủ toàn bộ dân cư khó khăn, đề xuất mức chuẩn trợ cấp tối thiểu áp dụng từ năm 2011 là 315.000 đồng/tháng (70% mức sống tối thiểu dân cư) và các hệ số xác định mức trợ cấp đối với mỗi nhóm đối tượng cụ thể, đa dạng các hình thức chăm sóc, nghiên cứu xây dựng luật trợ giúp và hoàn thiện kế hoạch chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng. Năm 2013, Ban điều phối các hoạt động hỗ trợ NKT tại Việt Nam đã có báo cáo năm 2013 về hoạt động trợ giúp NKT tại Việt Nam. Trong báo cáo nêu lên các nội dung đã thực hiện như tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về NKT; Tiếp tục triển khai Luật NKT, Đề án trợ giúp NKT giai đoạn 2012-2020; Duy trì và tăng cường nâng cao nhận thức xã hội về vấn đề NKT; Tăng cường hoạt động điều phối và tăng cường hợp tác quốc tế.