phần mở đầu, mục lục, kết luận, các phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung nghiên cứu gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận của hoạt động Công tác xã hội trong hỗ trợ học nghề đối với người khuyết tật. Chương 2: Thực trạng hoạt động Công tác xã hội trong hỗ trợ học nghề đối với người khuyết tật tại Trung tâm dạy nghề từ thiện Quỳnh Hoa, huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội. Chương 3: Đề xuất biện pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động Công tác xã hội trong hoạt động học nghề đối với người khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm dạy nghề từ thiện Quỳnh Hoa, huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội. 15 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ HỌC NGHỀ ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT 1.
Khái niệm người khuyết tật và học nghề đối với người khuyết tật 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm khuyết tật Ranh rới giữa bình thường và khuyết tật là hết sức mong manh, ai cũng có thể trở thành người khuyết tật, như TS. Margaret Chan Tổng giám đốc tổ chức Y tế thế giới (WHO) phát biểu: “Hầu hết mỗi người trong chúng ta có thể bị mất khả năng tạm thời hoặc vĩnh viễn tại một thời điểm nào đó trong đời” [19, tr.
Từ “khuyết tật” có nguồn gốc từ “disability” trong tiếng Anh. Theo nguyên nghĩa từ này có nghĩa sự hàm ý khả năng hạn chế, hoặc thiếu khả năng thực hiện một hoạt động gì đó do có khiếm khuyết. Phân biệt với unability là mất khả năng. Theo từ điển tiếng Việt từ “khuyết” có nghĩa là không đầy đủ, thiếu một bộ phận, một phần.
Từ “tật” có nghĩa là có “điều gì đó không được bình thường, ít nhiều khó chữa ở vật liệu, dụng cụ, máy móc. Còn ở người là sự bất bình thường, nói chung là không thể chữa được, của một cơ quan trong cơ thể do bẩm sinh mà có, hoặc do tai nạn hay bệnh gây ra” [20, tr. 16 Các tổ chức quốc tế như: Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đang cố gắng đưa ra một định nghĩa chung về khuyết tật, tàn tật đã là một hệ thống tiên phong trong quá trình hiểu và đưa ra định nghĩa về khuyết tật. Hệ thống này được xem xét sửa đổi lại vào năm 1990 và đưa đến một hệ thống phân loại quốc tế về chức năng, khuyết tật và sức khỏe (ICF) vào năm 2002.
Theo cách hiểu của ICIDH (phân loại Quốc tế Khiếm khuyết, Khuyết tật và Sức khỏe) các thuật ngữ giảm chức năng, khuyết tật, tàn tật có nội hàm khác nhau: - Disability - Suy giảm chức năng: Chỉ những người có vấn đề về thể chất (xét ở góc độ cơ thể). - Impairment - Khuyết tật: Là những hạn chế trong hoạt động theo chức năng hay trong phạm vi bình thường của con người, những hạn chế này do suy giảm chức năng gây nên. - Handicap - Tàn tật: Là hạn chế hay thiếu hụt (do một khuyết tật) khả năng thực hiện vai trò xã hội. Như vậy, khuyết tật có thể được hiểu là khiếm khuyết thực thể ở một bộ phận nào đó hoặc khiếm khuyết chức năng của một hoặc nhiều cơ quan, tổ chức của cơ thể và khiếm khuyết đó có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống.
Ngày nay, trong các văn bản pháp quy cụm từ “khuyết tật” dần được sử dụng thay cho cụm từ “tàn tật” vì từ “khuyết tật” tạo cảm giác nhẹ nhàng hơn và hàm chứa ý nghĩa tích cực hơn. Từ “khuyết” mang ý nghĩa chỉ suy giảm một chức năng nào đó, còn các chức năng khác của cơ thể vẫn hoạt động bình thường. Như vậy, định nghĩa khuyết tật có thể được hiểu là: “Tình trạng thiếu hụt hay rối loạn chức năng so với chuẩn sinh lý bình thường làm cho cá nhân bị trở ngại trong học tập, làm việc, giao tiếp, vui chơi giải trí và sinh hoạt” [19, tr. Khái niệm người khuyết tật Người khuyết tật là người có một hoặc nhiều khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần mà vì thế gây ra suy giảm đáng kể và lâu dài đến khả năng thực hiện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày.
Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật – 2006 thì nêu rõ “người khuyết tật (people with disabilities) bao gồm những người có những khiếm khuyết lâu dài về thể chất, trí tuệ, thần kinh hoặc giác quan mà khi tương tác với các rào cản khác nhau có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ trong xã hội trên một nền tảng công bằng như những người khác trong xã hội”. Theo Luật người khuyết tật được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 17/06/2010: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn” [10]. Khái niệm theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): người khuyết tật là những người mà triển vọng tìm giữ được một việc làm thích hợp, cũng như triển vọng tiến bộ về mặt nghề nghiệp đều bị giảm sút một cách rõ rệt sau khi bị một trở ngại về thể chất hoặc tinh thần và trở ngại đó được công nhận đúng mức. Khái niệm người khuyết tật theo tổ chức Y tế thế giới (WHO, 1999): người khuyết tật là những người có suy giảm chức năng ở các mức độ: khiếm khuyết, khuyết tật và tàn tật.
- Khiếm khuyết chỉ sự mất mát hoặc không bình thường của cấu trúc cơ thể liên quan đến tâm lý hoặc sinh lý. - Khuyết tật chỉ đến sự giảm thiểu chức năng hoạt động, là hậu quả của sự khiếm khuyết. 18 - Tàn tật đề cập đến tình thế bất lợi hoặc thiệt thòi của người mang khiếm khuyết do tác động của môi trường xung quanh lên tình trạng khuyết tật của họ. Theo quan điểm của tổ chức Quốc tế người khuyết tật (DPI, 1982): người khuyết tật trở thành tàn tật do thiếu cơ hội tham gia các hoạt động xã hội và có một cuộc sống giống như thành viên khác.
Do vậy, khuyết tật là một hiện tượng phức tạp, phản ánh sự tương tác giữa các tính năng cơ thể và các tính năng xã hội mà trong đó người khuyết tật sống. Khái niệm người khuyết tật theo quan niệm của mỗi quốc gia: Ở mỗi nước khái niệm người khuyết tật có khác nhau về mức độ, thời gian tác động của khuyết tật đối với đời sống con người. Anh quốc: Theo DDA (Disability Discrimination Act – Đạo luật chống phân biệt đối xử với người khuyết tật do Quốc hội Anh ban hành): người khuyết tật là người có một hoặc nhiều khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần mà vì thế gây ra suy giảm đáng kể và lâu dài đến khả năng thực hiện các hoạt động, sinh hoạt hàng ngày. Khi xét về mặt thời gian tác động người khuyết tật là những người có: khiếm khuyết kéo dài hoặc kéo dài hơn 12 tháng được coi là khuyết tật.
Khiếm khuyết kéo dài dưới 12 tháng không được coi là khuyết tật trừ khi bị tái đi tái lại nhiều lần. Một số khiếm khuyết kéo dài hơn 12 tháng cả khi được phục hồi hoàn toàn thì vẫn được coi là người khuyết tật [19, tr. Hoa kỳ: Theo đạo luật về người khuyết tật của Hoa kỳ năm 1990 (ADA – Americans with Disability Act of 1990) định nghĩa người khuyết tật là người có sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kế đến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống. Những ví dụ cụ thể về khuyết tật bao gồm: khiếm khuyết về vận động, khiếm khuyết về thị giác, khiếm khuyết về nói và nghe, chậm phát triển tinh thần, bệnh cảm xúc và những khiếm khuyết cụ thể về học tập, các bệnh lây và không lây như: bại não, động kinh, 19 teo cơ, ung thư bệnh tim, tiểu đường, bệnh lao và bệnh do HIV (có triệu chứng hay không có triệu chứng) [19, tr.
Trung Quốc: người khuyết tật là những người có một bộ phận tổ chức, chức năng về tâm sinh lý, kết cấu cơ thể bị mất đi hoặc không bình thường, người mất toàn bộ hoặc một phần năng lực hoạt động để làm việc theo phương thức bình thường [19, tr. Thái Lan: người khuyết tật là những người bị tổn thương hay khác thường về thể xác, trí óc hay tâm lý theo các quy định của các Bộ chức năng. Australia: người khuyết tật là những người mà chức năng bên trong bị hạn chế do bị tổn thương về thể xác, trí óc, tình cảm hoặc các giác quan [19, tr. Cộng hòa Liên bang Đức: người khuyết tật là những người có các chức năng về thể lực, trí lực, tâm lý tiến triển không bình thường so với những người cùng độ tuổi trong thời gian trên 6 tháng và sự không bình thường này là nguyên nhân dẫn tới việc họ bị hạn chế tham gia vào cuộc sống xã hội [19, tr.
Tóm lại, người khuyết tật là những người thiếu hụt hoặc giảm sút một, một số bộ phận hay chức năng của cơ thể và tinh thần, là những người yếu thế trong xã hội, là đối tượng của hoạt động trợ giúp của Công tác xã hội. Vì thế xã hội cần tạo mọi điều kiện để người khuyết tật hòa nhập cộng đồng. Nếu như xã hội không quan tâm, không có chính sách trợ giúp, hỗ trợ cho người khuyết tật hòa nhập cộng đồng thì đó là một xã hội không hoàn chỉnh, còn khiếm khuyết. Khái niệm học nghề Theo Điều 3 trong luật giáo dục nghề nghiệp năm 2014: “Học nghề là quá trình học tập, tích lũy kiến thức nghề nghiệp của con người để hướng tới mục đích chủ yếu là giải quyết việc làm” [11].
Vì vậy, có thể khẳng định rằng học nghề là hoạt động nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp 20 cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học. Thông qua hoạt động học nghề, NKT có thể học tập, trau dồi và tích lũy khả năng của bản thân trong quá trình hướng nghiệp sau này. Mục tiêu đào tạo học nghề là bồi dưỡng nguồn nhân lực kỹ thuật trực tiếp sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.