CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT 1. Khái niệm, công cụ nghiên cứu 1. Khái niệm khuyết tật, trẻ em, trẻ em khuyết tật 1. Khái niệm khuyết tật Có rất nhiều cách hiểu và cách diễn giải khác nhau về khuyết tật bởi tính đa dạng, phức tạp của khái niệm, của công cụ đo lường, cũng như sự khác biệt văn hoá, xã hội của mỗi quốc gia, do vậy, cho đến nay chưa có khái niệm thống nhất về khuyết tật.
[3] Năm 1988, Tổ chức y tế thế giới (WHO) đưa ra sự phân loại: khiếm khuyết (imparrment), khuyết tật (disability) và tàn tật (handicap), theo đó, khuyết tật có nội hàm khác biệt với khiếm khuyết và tàn tật, cụ thể: Khuyết tật: ám chỉ sự suy giảm chức năng bởi sự thiếu hụt hay bất thường của bộ phận cơ thể nào đó gây nên ở con người. Khiếm khuyết: chỉ vấn đề liên quan tới sự thiếu hụt hay bất thường của một hay nhiều bộ phận cơ thể con người, nói cách khác đó là sự khiếm khuyết về thể chất, sinh học của con người. Tàn tật: bao hàm cả ý nghĩa phụ thuộc của con người do sự suy giảm về vai trò xã hội của con người và nó bị quy định bởi cách ứng xử xã hội.[22] Trong Công ước về quyền của người khuyết tật ngày 06 tháng 12 năm 2006, Đại hội đồng Liên hợp quốc định nghĩa khuyết tật gắn với sự suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại với hàng loạt những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của con người vào xã hội trên cơ sở bình đẳng.[10] Ở Việt Nam “khuyết tật” và “tàn tật” là hai thuật ngữ tiếng Việt để chỉ cùng một khái niệm, nhưng mang hai ý nghĩa khác nhau. Thuật ngữ tàn tật mang ý nghĩa tiêu cực nhiều hơn bởi nó thường được người dân sử dụng để 17 chỉ một con người hoàn toàn không đủ khả năng và năng lực, còn từ “khuyết tật” nhằm miêu tả trạng thái khiếm khuyết của cơ thể.
Cả hai thuật ngữ này vẫn thường được dùng song song trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Ngày 17/6/2010, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Người khuyết tật, có hiệu lực từ 01/01/2011 và chính thức sử dụng thuật ngữ “khuyết tật” thay cho thuật ngữ “tàn tật”. Luật này nêu rõ “khuyết tật là tình trạng khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc tình trạng suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn và cũng theo Luật người khuyết tật năm 2010 thì Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn. [19] Khuyết tật được chia thành 06 dạng tật bao gồm: Khuyết tật vận động; Khuyết tật nghe, nói; Khuyết tật nhìn;Khuyết tật thần kinh, tâm thần; Khuyết tật trí tuệ; Khuyết tật khác; Mức độ khuyết tật được chia theo 03 cấp độ như sau: Người khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày; Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày; Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc hai cấp độ nêu trên.
Khái niệm trẻ em Công ước quốc tế về Quyền Trẻ em của Liên hiệp quốc định nghĩa trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn. Công ước này được 192/194 nước thành viên phê duyệt. [8] 18 Theo quan điểm của một số tổ chức quốc tế trực thuộc Liên hiệp quốc như Quỹ Dân số (UNFPA), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa (UNESCO) xác định trẻ em là người dưới 15 tuổi.[22] Trong phạm vi của đề tài, tác giả vận dụng khái niệm trẻ em theo Luật Trẻ em vừa được kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 5/4/2016 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 6 năm 2017. Tại điều 1 của Luật trẻ em định nghĩa rằng “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”.
Khái niệm trẻ em khuyết tật TheoTổ chức Y tế Thế Giới (WHO), Trẻ khuyết tật là những trẻ có thiếu hụt cấu trúc cơ thể hoặc suy giảm các chức năng dẫn đến những hạn chế nhất định trong hoạt động của cá nhân và gặp khó khăn, trở ngại (do môi trường sống đem lại) trong việc tham gia đầy đủ và có hiệu quả mọi hoạt động trong xã hội - cộng đồng. Theo Điều 1 Pháp lệnh người tàn tật của Việt Nam năm 1998: “Trẻ tàn tật là những trẻ từ 0-18 tuổi, không phân biệt nguồn gốc gây ra khuyết tật, thiếu một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn”. Dịch vụ, dịch vụ công tác xã hội 1. Khái niệm Công tác xã hội Qua nghiên cứu các tài liệu liên quan cho thấy có khá nhiều khái niệm về CTXH được đưa ra trên nhiều góc độ, khía cạnh.
Theo Hiệp hội Quốc gia nhân viên công tác xã hội (NVCTXH (NASW): Công tác xã hội là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với 19 các mục tiêu của họ (Zastrow, 1996: 5). CTXH tồn tại để cung cấp các dịch vụ xã hội mang tính hiệu quả và nhân đạo cho cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng và xã hội giúp họ tăng năng lực và cải thiện cuộc sống (Zastrow, 1999:. Theo các nhà nghiên cứu về CTXH Philippines: “CTXH là một nghề bao gồm các hoạt động cung cấp dịch vụ nhằm thúc đẩy hay điều phối các mối quan hệ xã hội và sự điều chỉnh hòa hợp giữa cá nhân và môi trường xã hội để có xã hội tốt đẹp hơn” [6] Tại Việt Nam, Đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010 – 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định 32/2010/QĐ-TTg thì CTXH được định nghĩa như sau: “CTXH góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người và con người, hạn chế phát sinh các vấn đề xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của thân chủ xã hội, hướng tới một xã hội lành mạnh, công bằng, hạnh phúc cho người dân và xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến” Theo Nguyễn Thị Oanh: CTXH là một hoạt động thực tiễn, mang tính tổng hợp được thực hiện và chi phối bởi các nguyên tắc, phương pháp hỗ trợ cá nhân, nhóm và cộng đồng giải quyết vấn đề. [6] Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai: “CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm trợ giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần bảo đảm an sinh xã hội”.
[6] Cho dù có sự khác nhau, nhưng nhìn chung các khái niệm đều nói đến khía cạnh tác động tích cực của CTXH nhằm tạo ra sự thay đổi của xã hội, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho tất cả mọi người, đặc biệt là nhóm 20 yếu thế, góp phần đảm bảo nền an sinh xã hội cho mọi người dân, hướng tới tiến bộ và công bằng xã hội. Đồng thời, CTXH là một khoa học, một hoạt động chuyên môn bao gồm hệ thống kiến thức, kỹ năng và những chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp. Ngoài việc nắm vững các kiến thức, kỹ năng của CTXH NVCTXH còn phải hiểu rõ các kiến thức liên quan, vận dụng tốt kiến thức, kỹ năng CTXH khi làm việc. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả nhận thấy khái niệm CTXH của tác giả Bùi Thị Xuân Mai thể hiện đầy đủ, rõ ràng các nội dung, khía cạnh về CTXH, do vậy luận văn lựa chọn và sử dụng khái niệm này trong nghiên cứu.
Khái niệm dịch vụ Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người. Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể như hàng hoá nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội. Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công. [23] Theo quan điểm kinh tế học, bản chất của dịch vụ là sự cung ứng để đáp ứng nhu cầu như: dịch vụ du lịch, thời trang, chăm sóc sức khỏe….
và mang lại lợi nhuận. [22] Theo Từ điển Tiếng Việt: Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công [24] Như vậy, có khá nhiều khái niệm về dịch vụ được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau nhưng khái quát lại: Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người. Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể (hữu hình) như hàng hóa nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội. Khái niệm dịch vụ xã hội 21 Dịch vụ xã hội được hiểu là “những hoạt động đáp ứng các nhu cầu cộng đồng và cá nhân nhằm bảo đảm các giá trị và chuẩn mực xã hội, phát triển xã hội, có vai trò đảm bảo phúc lợi và công bằng xã hội, đề cao giá trị đạo lý, nhân văn, vì con người”.
Dịch vụ xã hội là các hoạt động cụ thể được xây dựng trên cơ sở chính sách xã hội được triển khai nhằm đáp ứng nhu cầu cá nhân, gia đình và cộng đồng, nhằm giải quyết những vấn đề xã hội. Các dịch vụ xã hội là các hoạt động của nhân viên xã hội và những nhà chuyên nghiệp khác nhằm nâng cao sức khỏe và chất lượng cuộc sống của con người và giúp con người không phụ thuộc; củng cố mối quan hệ gia đình; khôi phục chức năng xã hội đối với các cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng (Whitaker and Federcio, 1990) [9] 1.