phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài đƣợc chia làm 3 phần nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công tác trợ giúp xã hội đối với ngƣời khuyết tật. Chƣơng 2: Thực trạng công tác trợ giúp xã hội đối với ngƣời khuyết tật ở quận Thanh Khê. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác trợ giúp xã hội đối với ngƣời khuyết tật ở quận Thanh Khê. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Hiện nay, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu, tài liệu, bài viết về an sinh xã hội, trong đó có đề cập đến công tác TGXH đối với NKT ở góc độ lý luận, chính sách, thực tiễn… Cũng có những công trình, bài viết riêng về NKT nhƣng ở các góc độ, khía cạnh khác nhau.
Một số công trình tiêu biểu có thể kể đến nhƣ: - Lê Bạch Dƣơng, Đặng Nguyên Anh, Khuất Thu Hồng, Lê Hoài Trung, Robert Lezoy Bach (2005), Bảo trợ xã hội cho những nhóm thiệt thòi ở Việt Nam, NXB Thế giới, Hà Nội [17]. Cuốn sách trình bày kết quả khảo sát các nhu cầu và những vấn đề có liên quan đến các nhóm thiệt thòi ở Việt Nam. Nhìn nhận chức năng TGXH thƣờng xuyên nhƣ hệ thống bảo trợ xã hội. Đồng thời các tác giả đƣa ra những dẫn chứng về số liệu, văn bản, nguồn lực, kết quả thực hiện, điểm mạnh, điểm hạn chế của hệ thống bảo trợ xã hội của Việt Nam đối với các nhóm đối tƣợng yếu thế, thiệt thòi cần đƣợc trợ giúp.
- Nguyễn Hải Hữu (2007), Báo cáo chuyên đề “thực trạng trợ giúp xã hội và ưu đãi xã hội ở nước ta năm 2001 – 2007 và khuyến nghị tới năm 2015”, Bộ Lao động – Thƣơng binh và xã hội, Hà Nội [24]. Tác giả đã đề cập đến các đối tƣợng bảo trợ xã hội trong đó có NKT và các trợ giúp xã hội mà 5 NKT đƣợc hƣớng đến. Từ đó, đề ra các kiến nghị, giải pháp tiếp tục hoàn thiện các chính sách TGXH về khám chữa bệnh, giáo dục, tiếp cận các công trình giao thông công cộng cho các đối tƣợng bảo trợ xã hội nói chung và NKT nói riêng. - Tổ chức lao động quốc tế - ILO (2008), Báo cáo khảo sát về đào tạo nghề và việc làm cho Người khuyết tật tại Việt Nam [40].
Báo cáo đã chỉ rõ Chính phủ Việt Nam chú trọng nhiều đến tầm quan trọng của vấn đề hòa nhập NKT trong đào tạo nghề, việc làm và phát triển doanh nghiệp. Trong báo cáo đã cho thấy pháp luật về đào tạo nghề và việc làm của Việt Nam không nêu rõ trong các hoạt động chủ đạo và Chính phủ cũng chƣa có chính sách khuyến khích đào tạo nghề hòa nhập riêng cho NKT ngoài chính sách giáo dục hòa nhập. Nhờ có một số ƣu tiên riêng, đã có nhiều trƣờng/trung tâm dạy nghề dành riêng cho NKT đƣợc thành lập, nhƣng trên thực tế chỉ phục vụ các khu vực thành thị. Tại các khu vực nông thôn, việc tiếp cận đào tạo nghề rất bị hạn chế.
Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp, kiếm đƣợc việc làm sau đào tạo nghề khá thấp và phần lớn những học viên tốt nghiệp chủ yếu tìm đƣợc việc làm tại các cơ sở dành riêng cho NKT chứ không phải tại các doanh nghiệp thông thƣờng. Tại Việt Nam, số các doanh nghiệp dành riêng cho NKT khá nhiều. Hơn 8000 NKT làm việc tại các doanh nghiệp này. Tuy nhiên, phần lớn là các cơ sở rất nhỏ, hoạt động lợi nhuận thấp nhƣ các ngành thủ công, mỹ nghệ, matsxa, đan lát.
Khả năng đƣợc đào tạo một cách phù hợp hoặc tham gia các dịch vụ phát triển kinh doanh tại các doanh nghiệp này là rất hạn chế. - TNS thực hiện và biên soạn cho Qũy nhi đồng liên hợp quốc UNICEF (2009), Báo cáo về Trẻ khuyết tật và Gia đình Trẻ khuyết tật tại Đà Nẵng - Kiến Thức - Thái Độ - Hành Vi [39]. Báo cáo đã chỉ rõ ƣớc tính Việt Nam có khoảng hơn 1 triệu trẻ khuyết tật. Năm 2008, UNICEF Việt Nam đã khởi xƣớng một chƣơng trình đa ngành cho trẻ khuyết tật và Đà Nẵng là nơi đầu 6 tiên đƣợc chọn trong ba tỉnh thành đề xuất cho dự án này.
Trong báo cáo đề cập tới kiến thức, thái độ và cảm nhận của các gia đình và trẻ khuyết tật, bao gồm những vấn đề chính và mong đợi của trẻ cũng nhƣ những trở ngại mà trẻ gặp phải trong đời sống hàng ngày, đồng thời cũng đƣa ra những nhìn nhận mang tính xã hội của cộng đồng và các bên liên quan về những vấn đề này. Bên cạnh đó, báo cáo còn chỉ rõ các vấn đề liên quan tới các hệ thống và sự hỗ trợ cho việc hòa nhập của trẻ khuyết tật với cộng đồng hiện nay và quan điểm của từng bên hữu quan cũng đƣợc cung cấp. Từ đó đƣa ra những đề xuất củng cố thêm các chính sách, khung pháp lý và các chƣơng trình cho trẻ khuyết tật và gia đình của trẻ, cũng nhƣ phát triển truyền thông nhằm thay đổi hành vi của xã hội cũng nhƣ từng cá nhân. - Bộ Lao động - Thƣơng binh và xã hội (2009), Báo cáo tổng kết tình hình thi hành Pháp lệnh về người tàn tật và các văn bản pháp luật liên quan, Hà Nội [3].
Trong báo cáo đã chỉ rõ về thực trạng ngƣời khuyết tật. Theo ƣớc tính cả nƣớc có khoảng 5,1 triệu ngƣời khuyết tật, chiếm khoảng 6% dân số. Đời sống vật chất, tinh thần của ngƣời khuyết tật còn nhiều khó khăn. Những khó khăn này cản trở ngƣời khuyết tật tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục, học nghề, tìm kiếm việc làm, tham gia giao thông, dẫn đến khó khăn trong cuộc sống và hoà nhập với cộng đồng.
Đồng thời báo cáo cũng nêu rõ các kết quả thực hiện công tác chăm sóc ngƣời khuyết tật trên các lĩnh vực nhƣ: đời sống, sức khỏe, giáo dục, học nghề và việc làm, tiếp cận văn hóa, thể thao và công trình công cộng. Từ đó đề ra những giải pháp để giúp công tác thực hiện pháp lệnh ngƣời tàn tật đƣợc tốt hơn. - Nguyễn Ngọc Toản (2010), Chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội [37]. Tác giả đã có viết một phần về NKT.
Trong luận án, tác giả đã chỉ ra đƣợc số lƣợng NKT (theo kết quả khảo sát năm 2008) trên cả nƣớc 7 và phạm vi phân bố NKT, dạng khuyết tật và số lƣợng NKT cũng nhƣ nhu cầu của NKT và việc đáp ứng nhu cầu của NKT. Kết quả nghiên cứu phát hiện nhu cầu trợ giúp tƣơng đối đông, tính chung 16,22% dân số cần trợ giúp xã hội. Các nhu cầu trợ giúp về đời sống, sức khỏe, giáo dục là khác nhau, tùy thuộc vào các nhóm đối tƣợng cụ thể. Tính hiệu quả của chính sách ngày càng cao theo thời gian.
Tuy nhiên tính hiệu lực, hiệu quả, tính công bằng và bền vững của chính sách còn chƣa đảm bảo (mới bao phủ 1,45% dân số, 12,2% thuộc diện chƣa hƣởng chính sách, 32% đối tƣợng, 55% cán bộ chƣa thực sự hài lòng với chính sách). Đồng thời dựa trên những kết quả thu đƣợc, tác giả cũng đã đƣa ra định hƣớng, giải pháp hoàn thiện chính sách TGXH thƣờng xuyên ở cộng đồng Việt Nam. - Nguyễn Quốc Anh (2010), “Thực trạng Ngƣời khuyết tật và kết quả thực hiện chăm sóc Ngƣời khuyết tật”, Tạp chí Dân số và Phát triển, số 1 (106) [1]. Bài viết phân tích, đánh giá thực trạng NKT ở Việt Nam.
Cả nƣớc có khoảng 5,1 triệu NKT, chiếm khoảng 6% dân số, với nhiều nguyên nhân dẫn đến khuyết tật khác nhau. Công tác tuyên truyền phổ biến Pháp lệnh và chính sách liên quan đến NKT cũng còn hạn chế. Còn tới 77,1% số ngƣời không biết Pháp lệnh về ngƣời tàn tật, trong số biết chỉ có 6,4% biết rõ, 16,5% mới chỉ nghe và biết tên. Hiểu biết ít nên các hoạt động chăm sóc, hỗ trợ NKT ở cộng đồng chƣa đƣợc thực hiện tốt; NKT thƣờng tự ti trong cuộc sống, chƣa thấy đƣợc quyền và trách nhiệm của mình.
Đồng thời đƣa ra những dẫn chứng về số liệu, văn bản, kết quả thực hiện, điểm mạnh, điểm hạn chế của chính sách TGXH đối với NKT trên năm lĩnh vực: đời sống; sức khỏe, chỉnh hình, phục hồi chức năng; học văn hóa; học nghề và tạo việc làm; tiếp cận văn hóa, thể thao và công trình công cộng. - Quỹ dân số Liên hợp quốc UNFPA (2011), Người khuyết tật Việt Nam: Một số kết quả chủ yếu từ Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 2009, Hà 8 Nội [33]. Tài liệu này đƣa ra một bức tranh kinh tế - xã hội sơ bộ về NKT ở Việt Nam dựa trên phân tích số liệu mẫu 15% của tổng điều tra dân số năm 2009. Báo cáo chỉ rõ trong số 78,5 triệu ngƣời Việt Nam từ 5 tuổi trở lên năm 2009 có 6,1 triệu ngƣời, tƣơng ứng với 7,8% dân số từ 5 tuổi trở lên, có khó khăn trong việc thực hiện ít nhất một trong bốn chức năng nhìn, nghe, vận động, và tập trung hoặc ghi nhớ.
Tỷ lệ ngƣời khuyết tật ở các vùng khác nhau rõ rệt, có75,7% số NKT sống ở khu vực nông thôn. Báo cáo cũng chỉ rõ so với ngƣời không khuyết tật, NKT thƣờng có điều kiện nhà ở kém hơn, mức sống của hộ gia đình họ cũng thấp hơn, NKT có tỷ lệ sống độc thân cao hơn, gặp nhiều khó khăn hơn trong việc kết hôn, cũng nhƣ gặp nhiều trục trặc sau hôn nhân hơn. So với NKT trẻ tuổi, NKT cao tuổi, đặc biệt là những ngƣời góa bụa hoặc sống độc thân, có nhu cầu rất lớn về những hỗ trợ từ Chính phủ hay từ ngoài gia đình. NKT cũng chịu nhiều thiệt thòi hơn trong giáo dục so với ngƣời không khuyết tật, do vậy cần có sự quan tâm và hỗ trợ đặc biệt đến giáo dục cho thanh thiếu niên khuyết tật.
Đa phần các công trình nghiên cứu đều trên phạm vi rộng và đề cập tới nhiều đối tƣợng bảo trợ xã hội. Qua các nghiên cứu của các tác giả cũng nhƣ các bộ ngành, đã cho chúng ta thấy một bức tranh về thực trạng NKT, kết quả thực hiện chính sách và đề xuất, kiến nghị các giải pháp tăng cƣờng hệ thống thực thi các chính sách liên quan đến NKT. Tuy vậy, các nghiên cứu nêu trên đều tập trung vào tầm vĩ mô trên phạm vi toàn quốc, chƣa có đề cập đến tình hình NKT cụ thể của một huyện hay một xã nào.