ĐẶT VẤN ĐỀ Virus corona gây hội chứng hô hấp cấp tính nặng 2 (Severe Acute Respiratory Syndrome CoronaVirus 2 – SARS-CoV-2) là một loại virus đường hô hấp mới gây bệnh viêm đường hô hấp cấp ở người (Coronavirus disease 2019 – COVID-19), hiện nay vẫn chưa có thuốc đặc hiệu để phòng và điều trị căn bệnh này [4, 42]. Các ca bệnh đầu tiên đã được ghi nhận tại thành phố Vũ Hán, Trung Quốc vào tháng 12 năm 2019 [11, 24, 40]. Ngày 11 tháng 03 năm 2020, Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization-WHO) đã tổ chức cuộc họp khẩn cấp và công bố COVID-19 là đại dịch trên toàn cầu [4, 42]. Tính đến ngày 16 tháng 08 năm 2020, trên thế giới đã có hơn 21 triệu trường hợp nhiễm xác nhận trên toàn cầu với hơn 700 nghìn ca tử vong ở 216 quốc gia và vùng lãnh thổ [7].
Đại dịch COVID-19 đã ảnh hưởng toàn diện, sâu rộng đến tất cả quốc gia trên thế giới, hiện nay đang tiếp tục diễn biến rất phức tạp, tác động tiêu cực của dịch bệnh đến các mặt của đời sống kinh tế - xã hội còn tiếp tục kéo dài [13, 21, 32, 35]. Chính vì vậy, việc chủ động phòng và chống bệnh viêm đường hô hấp cấp COVID-19 là rất quan trọng. Tại Việt Nam, tình hình dịch bệnh cũng rất phức tạp theo các giai đoạn khác nhau [7]. Theo thống kê của Bộ y tế tính tới thời điểm ngày 16 tháng 05 năm 2021, Việt Nam đã trải qua 4 giai đoạn, ghi nhận hơn 4500 trường hợp mắc, trong đó 2687 người đã được xuất viện và 36 ca tử vong [7].
Tất cả mọi công dân đều đang nỗ lực cố gắng phòng chống dịch bệnh. Tuy nhiên, các biến chủng mới của vius SAR-CoV 2 đang dân được xuất hiện khiến việc ngăn chặn và điều trị COVID-19 trở nên khó khăn hơn [30]. Bên cạnh đó, các loại vaccine phòng dịch COVID-19 chỉ đang được ưu tiên cho các nhóm đối tượng nguy cơ, vì vậy phòng bệnh chủ động là biện pháp an toàn và hữu hiệu nhất đối với cộng đồng hiện nay. Tác động của đại dịch COVID-19 rất sâu sắc và ảnh hưởng đến các nhóm dân cư khác nhau.
Người khuyết tật (NKT) được coi là nhóm dễ bị tổn thương nhất bởi COVID-19 [1-4]. Tuy nhiên, vẫn còn rất ít nghiên cứu để hiểu về chất lượng cuộc sống (QoL) liên quan đến sức khỏe của người mắc bệnh NKT trong bối cảnh bùng phát dịch bệnh giãn cách xã hội ở Việt Nam. Do đó, sinh viên quyết định thực hiện nghiên cứu “Chất lượng cuộc sống của người khuyết tật vận động trong đại 2 dịch COVID-19 tại quận Đống Đa, thành phố Hà Nội năm 2021” để cung cấp các bằng chứng cho những can thiệp phù hợp với nhóm đối tượng dễ bị tổn thương này. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu 1: Mô tả thực trạng về chất lượng cuộc sống của người khuyết tật vận động trong đại dịch COVID-19 tại quận Đống Đa, thành phố Hà Nội năm 2021 Mục tiêu 2: Xác định các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người khuyết tật vận động trong đại dịch COVID-19 tại quận Đống Đa, thành phố Hà Nội năm 2021 4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số khái niệm và định nghĩa 1. Khái niệm khuyết tật, người khuyết tật và người khuyết tật vận động Khuyết tật được hiểu là tình trạng giảm chức năng xảy ra khi một người có vấn đề về sức khỏe và gặp phải các rào cản trong môi trường sống khiến cho họ gặp khó khăn trong việc thực hiện các chức năng trong đời sống trong sinh hoạt hàng ngày cũng như không tham gia một cách bình đẳng vào sinh hoạt xã hội [8],[9],[10]. Quan niệm khuyết tật này đã được Tổ chức Y tế thế giới cụ thể hóa trong việc phân biệt các cấp độ như sau: Khiếm khuyết: Là tình trạng mất mát, thiếu hụt hoặc bất bình thường của cấu trúc giải phẫu và sinh lý do bẩm sinh hay mắc phải. Đây là tình trạng khuyết tật ở cấp độ cấu trúc cơ thể.
Ví dụ: một người bị cụt một chân, cụt một ngón tay, người bị liệt 2 chân…[11]. Hạn chế hoạt động: là tình trạng khó khăn khi thực hiện một hoặc nhiều hoạt động trong đời sống hàng ngày (như đi lại, ăn, mặc quần áo, chăm sóc cá nhân, giao tiếp với người khác…) do ảnh hưởng của khiếm khuyết kết hợp với các rào cản tiếp cận môi trường. Đây là tình trạng khuyết tật ở cấp độ cá nhân [11]. Hạn chế sự tham gia: là tình trạng một người gặp khó khăn hoặc không thể tham gia các lĩnh vực khác nhau của cuộc sống (như học tập, lao động, vui chơi, thể thao- văn hóa, du lịch, hoạt động, chính trị- xã hội…) do ảnh hưởng bởi khiếm khuyết hoặc hạn chế vận động kết hợp với các rào cản về xã hội (như phân biệt đối cử, kỳ thị, thiếu chính sách hỗ trợ).
Đây là tình trạng khuyết tật ở cấp độ xã hội. Ví dụ: cháu bé không được vui chơi cùng bạn bè, không được đi học do bị bại não [11]. Khái niệm người khuyết tật Theo luật của người khuyết tật Việt Nam do Quốc hội ban hành ngày 17/06/2010 [12]. “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”.
5 NKT là người có một hoặc nhiều khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần mà vì thế gây ra sự suy giảm đáng kể và lâu dài đến khả năng thực hiện các hoạt động, sinh hoạt hàng ngày [13]. Theo Đạo luật chống phân biệt đối xử với NKT do Quốc hội Anh ban hành – DDA (Disability Discrimination Act), khi xét về mặt thời gian tác động thì khiếm khuyết kéo dài hoặc sẽ có thể kéo dài mà ít hơn 12 tháng bình thường không được coi là khuyết tật, trừ khi là bị tái đi tái lại, một số người có khuyến khuyết kéo dài hơn một năm thì vẫn ở trong diện DDA, cả khi họ sẽ được phục hồi hoàn toàn. Còn đạo luật về NKT ở Hoa Kỳ 1990 (Americans with Disabiliies Act of 1990- ADA) định nghĩa NKT là có sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống. Cũng theo ADA, những ví dụ cụ thể về khuyết tật bao gồm: Khiếm khuyết về vận động, thị giác, nói và nghe, chậm phát triển tinh thần, bệnh cảm xúc và những khiếm khuyết cụ thể về học tập, bại não, động kinh, teo cơ, ung thư, bệnh tim, tiểu đường, các bệnh lây và không lây như bệnh lao, bệnh do HIV (có triệu chứng hay không có triệu chứng).
Có sự thống nhất tương đối về định nghĩa thế nào là khuyết tật của hai đạo luật này [14]. Công ước về Quyền của người khuyết tật của Liên hợp quốc (năm 2006), Điều 1 quy định: “Người khuyết tật bao gồm những người bị suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ hay các giác quan trong một thời gian dài có ảnh hưởng qua lại với hàng loạt những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của người khuyết tật vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác” [15]. Theo TĐTDS và Nhà ở năm 2009 thì người NKT được định nghĩa là những người có khó khăn (có khó khăn, rất khó khăn và không thực hiện)trong việc thực hiện ít nhất một trong bốn chức năng là nhìn, nghe, vận động hoặc tập trung và ghi nhớ [8]. Người khuyết tật vận động Theo nghị định số 28/2012/NĐ-CP của Chính Phủ, người khuyết tật vận động được định nghĩa là: Khuyết tật vận động là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển [16].
Phân loại khuyết tật Có nhiều cách phân loại khuyết tật, dựa theo Bảng phân loại Quốc tế và chức năng, KT và sức khỏe (International classification of functioning, disability and health – ICF) của Tổ chức y tế Thế Giới chia KT thành các nhóm sau [14]. - Khuyết tật (giảm chức năng) vận động - Khuyết tật giảm chức năng về nghe, hoặc nghe nói kết hợp - Khuyết tập giảm chức năng vè nhìn - Giảm cảm giác bao gồm giảm cảm giác do bệnh phong gây ra giảm vị giác, khứu giác, do các nguyên nhân khác nhau - Rối loạn chức năng nhận thức: Các dạng chậm phát triển trí tuệ, Down - Rối loạn chức năng tâm thần hành vi tự kỷ, các dạng bệnh tâm thần, rối loạn hành vi - Các khuyết tật giảm chức chức năng khác thuộc hệ thống tuần hoàn, hô hấp, bài tiết, tiết niệu, sinh dục…do các bệnh mãn tính gây ra. Theo luật của NKT của Việt Nam số 51/2010/QH12 do Quốc hội ban hành ngày 17/06/2010 thì NKT được phân thành các nhóm sau [12]: - Khuyết tật vận động - Khuyết tật nghe, nói - Khuyết tật nhìn - Khuyết tật thần kinh, tâm thần - Khuyết tật trí tuệ - Khuyết tật khác Ngoài ra, theo TĐTDS năm 2009 còn phân loại có đơn khuyết tật và đa khuyết tật [8]. - Đơn khuyết tật là những người có khó khăn (có khó khăn, rất khó khăn và không thực hiện) trong việc thực hiện một trong bốn chức năng là nhìn, nghe, vận đông hoặc tập trung và ghi nhớ.
- Đa khuyết tật là những người có khó khăn (có khó khăn, rất khó khăn và không thực hiện) trong việc thực hiện ít nhất từ hai chức năng trong bốn chức năng là nhìn, nghe, vận đông hoặc tập trung và ghi nhớ. Mức độ khuyết tật Theo Luật số 51/2010/QH12 của Quốc hội: Luật người khuyết tật [12]. - Người khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày. - Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày.
- Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy định tại 2 điểm trên thuộc khoản này. Theo nghị định số 28/2012/NĐ – CP, việc xác định mức độ khuyết tật sẽ được Hội đồng giám định Y khoa xác định như sau [17]: - Người khuyết tật đặc biệt nặng là khi được Hội đồng giám định Y khoa kết luận là không còn khả năng tự phục vụ hoặc suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên. - Người khuyết tật đặc biệt nặng là khi được Hội đồng giám định Y khoa kết luận là có khả năng tự phục vụ sinh hoạt nếu có người, phương tiện trợ giúp một phần hoặc suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 81%.