CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI KHIẾM THỊ 1. Một số khái niệm được sử dụng trong đề án 1. Việc làm và giải quyết việc làm * Việc làm: Theo Bộ Luật lao động năm 2019, khái niệm việc làm được xác định là: “Hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà pháp luật không cấm” [20]. Một việc làm phải hội tụ đủ 03 yếu tố: - Là hoạt động lao động của con người - Hoạt động tạo ra thu nhập - Không bị pháp luật ngăn cấm [9].
Việc làm là hoạt động lao động thể hiện sự tác động của sức lao động vào tư liệu sản xuất để tạo ra của cải, vật chất. Yếu tố lao động trong việc làm phải có tính hệ thống, tính thường xuyên và tính nghề nghiệp. Vì vậy người có việc làm thông thường phải là những người thể hiện các hoạt động lao động trong phạm vi nghề nhất định và trong thời gian tương đối ổn định. Việc làm tạo ra thu nhập, mang lại khoản thu thường là tiền hoặc tài sản.
Đây phải là hoạt động hợp pháp, được Nhà nước cho phép. Việc làm không chỉ trong biên chế, mà còn ngoài biên chế, không chỉ ngoài xã hội, mà còn tại gia đình. Với khái niệm như vậy, tất cả những ai đang làm việc trong các thành phần kinh tế, trong các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội, xí nghiệp, trường học hoặc tại gia đình đều được coi là có việc làm [9]. * Giải quyết việc làm: khái niệm này được hiểu là: “Giải phóng triệt để tiềm năng sức lao động phù hợp với hệ thống các cơ chế, chính sách, pháp luật theo tinh thần đổi mới” [9].
Theo quan điểm đó, Nhà nước sẽ tạo ra môi trường và các điều kiện để người lao động tự do làm ăn, tự 9 tạo việc làm cho mình và cho người khác theo đúng pháp luật, phát huy đến mức cao nhất nhân tố con người [9]. Bộ luật Lao động 2019 quy định “Nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm" [20]. Tạo việc làm là quá trình tạo số lượng, chất lượng tư liệu sản xuất, sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội khác để kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động. Cơ chế tạo việc làm gồm 03 bên: Người lao động, người sử dụng lao động, Nhà nước [9].
Tạo việc làm là cho người lao động một công việc mang lại thu nhập ổn định và không bị pháp luật ngăn cấm. Người tạo ra công việc cho người lao động có thể là Nhà nước thông qua các chính sách, có thể là một tổ chức hoạt động kinh tế (các công ty, doanh nghiệp, các cơ sở hoạt động sản xuất kinh doanh…) và các cá nhân, thông qua các hoạt động thuê mướn nhân công. Khuyết tật và các dạng tật * Khuyết tật: Tại Điều 1 của Luật định nghĩa: “NKT là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn” [16]. * Dạng tật: Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Người khuyết tật năm 2010 và Điều 2 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật, các dạng khuyết tật bao gồm: “khuyết tật vận động; khuyết tật nghe, nói; khuyết tật nhìn; khuyết tật thần kinh, tâm thần; khuyết tật trí tuệ; khuyết tật khác” [4].
Người khiếm thị/người khuyết tật nhìn Trên cơ sở các dạng tật và mức độ khuyết tật, khiếm thị, khuyết tật thị giác hay khuyết tật nhìn là những cụm từ để chỉ khiếm khuyết về mắt ảnh 10 hưởng đến thị lực. Họ có thể không nhìn thấy hoặc là nhìn thấy nhưng rất mờ và cần đến sự trợ giúp của các phương tiện khác để hỗ trợ trong cuộc sống hàng ngày. Định nghĩa khuyết tật nhìn được quy định tại Khoản 3 Điều 2 Nghị định 28/2012/NĐ-CP: “Khuyết tật nhìn là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảm nhận ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môi trường bình thường” [4]. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) 1992: “Khiếm thị là thị lực dưới 6/18 (3/10) đến phân biệt sáng tối và thị trường dưới 100 từ điểm định thị.
Khiếm thị còn được gọi là hiện tượng mất khả năng cảm nhận thị giác một phần hoặc toàn phần. Sau khi được điều trị hoặc điều chỉnh khúc xạ, người khiếm thị thường có thị lực bên mắt tốt dưới 3/10 nhưng trên mức không nhận thức được sáng tối, vì thế họ vẫn còn khả năng tận dụng thị lực này để sinh hoạt hàng ngày” [25]. Nguyên nhân khiếm thị là do bẩm sinh, di truyền, tai nạn giao thông, tai nạn lao động, thương tật do chiến tranh, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, thiên tai địch họa. Tóm lại, khái niệm người khiếm thị hay còn gọi là người khuyết tật nhìn được sử dụng trong đề án được hiểu là: “Khuyết tật nhìn là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảm nhận ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môi trường bình thường” [16].
Giải quyết việc làm cho người khiếm thị Giải quyết việc làm cho người khiếm thị là việc thông qua các chính sách, sự hỗ trợ từ phía Nhà nước, xã hội, gia đình đặc biệt là sự vươn lên từ bản thân người lao động để có cơ hội tìm được công việc ổn định, tự nuôi sống bản thân, gia đình và cải thiện thu nhập. Việc làm cho người khiếm thị phải phù hợp với mức độ khuyết tật, khả năng, trình độ, mong muốn và đem lại lợi ích cho lao động khiếm thị, gia đình, cộng đồng và xã hội. Để làm được điều đó thì cần phải tăng cầu việc làm, tăng cung lao động 11 và tạo sự gặp gỡ giữa cung và cầu lao động. Trong quá trình làm việc cần chú trọng đến các hoạt động bồi dưỡng, đào tạo, nâng cao tay nghề, đảm bảo thực hiện đầy đủ các chế độ chính sách,.
để người khiếm thị có cơ hội phát triển hết khả năng và gắn bó lâu dài với tổ chức. Và để bảo đảm việc làm cho người khiếm thị, Nhà nước đã có một số quy định của pháp luật về giải quyết việc làm cho đối tượng là người khuyết tật nói chung trong đó có người khiếm thị với mong muốn mang lại sự bình đẳng việc làm giữa những người khuyết tật và người không khuyết tật. Đặc điểm của người khiếm thị Người khiếm thị là một bộ phận của người khuyết tật, được hưởng các quyền như người khuyết tật. Hiện nay, trong điều kiện kinh tế, xã hội phát triển hơn, việc chăm lo đến quyền của nhóm đối tượng này được quan tâm hơn.
Tại Điều 4 Luật Người khuyết tật 2010 quy định cụ thể người khiếm thị được chăm lo các quyền: “Tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội; Sống độc lập, hòa nhập cộng đồng; Được miễn hoặc giảm một số khoản đóng góp cho các hoạt động xã hội; Được chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, việc làm, trợ giúp pháp lý, tiếp cận công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và dịch vụ khác phù hợp với dạng tật và mức độ khuyết tật; Các quyền khác theo quy định của pháp luật [16]. Theo đó, một trong những quyền cơ bản của người khiếm thị là có việc làm. Người khiếm thị với thể chất bình thường hoàn toàn có khả năng lao động. Bên cạnh các khoản trợ cấp an sinh xã hội được nhận hàng tháng, nhiều người khiếm thị vẫn mong muốn tìm được một công việc phù hợp, trước mắt là để nuôi sống bản thân, dần dần vươn lên không trở thành gánh nặng của gia đình và xã hội.
Giải quyết việc làm cho người khiếm thị cần quan tâm đến tâm tư, tình cảm, lắng nghe nguyện vọng và động viên họ cố gắng vươn lên, 12 tin tưởng vào cuộc sống. Tạo điều kiện cho họ trước hết được học xóa mù chữ, học chữ nổi Braille, sau đó mới cho đi học nghề phù hợp với người khiếm thị như: tẩm quất xoa bóp, trồng trọt chăn nuôi, thủ công mỹ nghệ,…; sau cùng là tạo việc làm phù hợp với trình độ, năng lực, điều kiện phát triển nghề [11]. Lợi ích của giải quyết việc làm người khiếm thị Quyền lao động là một trong những quyền cơ bản của người khiếm thị và việc bảo đảm quyền lao động cho công dân là một trong những tiêu chí đánh giá sự tiến bộ của chế độ xã hội. Việc làm đối với người khiếm thị rất quan trọng.
Giải quyết việc làm cho người khiếm thị là đảm bảo quyền bình đẳng, không phân biệt đối xử trong mọi vấn đề liên quan đến việc làm; được tham gia công đoàn; tiếp cận các chương trình hướng nghiệp, dịch vụ việc làm và đào tạo nghề; bảo đảm cơ hội tự tạo việc làm và thăng tiến nghề nghiệp; thúc đẩy tuyển dụng người khiếm thị; bảo đảm người khiếm thị không phải làm nô dịch hay các hình thức cưỡng bức lao động khác. Việc làm chính là kế sinh nhai, tạo cơ hội cho họ phục hồi chức năng, rèn luyện giác quan, trí tuệ, thể lực thông qua lao động. Việc làm đem lại niềm vui, niềm tự hào được sống có ích. Việc làm góp phần quan trọng để người khiếm thị vươn lên thực sự bình đẳng, hòa nhập trong gia đình, xã hội và cộng đồng, thể hiện tinh thần nghị lực, vượt qua mặc cảm, vươn lên trong cuộc sống, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội [16].
Vai trò của Hội Người mù trong giải quyết việc làm cho người khiếm thị Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, đất nước độc lập, nhân dân được làm chủ, vai trò, lợi ích của các Hội quần chúng được khẳng định là to lớn, là tích cực và quan trọng. Vai trò đó được nâng cao nhất là từ năm 1945 đến nay. 13 Hội được hiểu là: “Tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức những người cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội viên; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước” [3].