Luận văn thạc sĩ về pháp luật lao động tàn tật ở Việt Nam

Luận văn thạc sĩ VNU LS phân tích pháp luật về lao động tàn tật tại Việt Nam, đề xuất giải pháp cải thiện quyền lợi cho người lao động.

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Luật Học

2009

77
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LAO ĐỘNG TÀN TẬT VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI CÓ NHỮNG QUY ĐỊNH RIÊNG ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG TÀN TẬT

1.1. Lao động tàn tật – Một loại lao động có đặc điểm riêng

1.1.1. Lao động có đặc điểm riêng theo pháp luật lao động Việt Nam

1.1.2. Khái niệm lao động tàn tật

1.1.3. Phân loại lao động tàn tật

1.2. Sự cần thiết phải có quy định riêng đối với lao động tàn tật

1.2.1. Đặc điểm về sinh lý, sức khoẻ

1.2.2. Đặc điểm về tâm lý

1.2.3. Yếu tố xã hội

1.2.4. Ý nghĩa của những quy định riêng đối với lao động tàn tật

1.2.5. Lược sử quá trình hình thành và phát triển pháp luật về lao động tàn tật ở Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ HIỆN HÀNH VỀ LAO ĐỘNG TÀN TẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM

2.1. Các quy định pháp luật cơ bản đối với lao động tàn tật

2.1.1. Nhóm các quy định về chế độ đối với lao động tàn tật

2.1.2. Quy định về quyền làm việc của lao động tàn tật

2.1.3. Nhóm các quy định về học nghề và việc làm cho lao động tàn tật

2.1.4. Nhóm các quy định về cơ sở dạy nghề, cơ sở sản xuất kinh doanh dành riêng cho người tàn tật

2.1.5. Nhóm các quy định về cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp khác thuộc mọi thành phần kinh tế

2.1.6. Nhóm các quy định riêng về dạy nghề cho lao động tàn tật

2.1.7. Quy định về tỷ lệ lao động tàn tật mà doanh nghiệp phải nhận vào làm việc

2.1.8. Về quỹ việc làm cho người tàn tật

2.1.9. Nhóm các quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi

2.1.10. Nhóm các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động

2.2. Thực trạng lao động tàn tật và việc thực hiện các quy định pháp luật đối với lao động tàn tật

2.2.1. Thực trạng lao động tàn tật

2.2.2. Việc thực hiện pháp luật về lao động tàn tật

3. CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG TÀN TẬT Ở VIỆT NAM

3.1. Một số nhận xét và đánh giá pháp luật về lao động tàn tật

3.2. Về hạn chế

3.3. Sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật về lao động tàn tật

3.3.1. Về mặt khách quan

3.3.2. Về mặt chủ quan

3.4. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về lao động tàn tật

3.4.1. Về các quy định của pháp luật

3.4.2. Về các biện pháp tổ chức thực hiện và hỗ trợ

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về pháp luật lao động tàn tật tại Việt Nam

Pháp luật về lao động tàn tật tại Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động khuyết tật. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề cần được giải quyết. Theo số liệu thống kê, khoảng 5,3 triệu người tàn tật đang sống tại Việt Nam, trong đó có hơn 69% đang ở độ tuổi lao động. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có những quy định pháp lý rõ ràng và hiệu quả hơn để hỗ trợ họ trong việc tìm kiếm việc làm và hòa nhập vào xã hội.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của lao động tàn tật

Lao động tàn tật được hiểu là những người có khả năng lao động bị suy giảm do các nguyên nhân khác nhau. Theo Nghị định số 116/2004/NĐ-CP, lao động tàn tật là người có khả năng lao động bị suy giảm từ 21% trở lên. Đặc điểm của lao động tàn tật không chỉ nằm ở thể chất mà còn ở tâm lý và xã hội, điều này đòi hỏi pháp luật phải có những quy định riêng biệt để bảo vệ quyền lợi của họ.

1.2. Tình hình lao động tàn tật hiện nay

Thực trạng lao động tàn tật tại Việt Nam cho thấy nhiều người vẫn gặp khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm. Khoảng 70% người tàn tật phải sống dựa vào gia đình, trong khi chỉ có 30% có thể tạo thu nhập từ các nghề thủ công. Việc thiếu các chính sách hỗ trợ và giáo dục nghề nghiệp cho người tàn tật là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này.

II. Thách thức trong việc thực hiện pháp luật lao động tàn tật

Mặc dù có nhiều quy định pháp luật về lao động tàn tật, nhưng việc thực hiện vẫn gặp nhiều thách thức. Các doanh nghiệp thường không tuân thủ các quy định về tỷ lệ lao động tàn tật trong lực lượng lao động của họ. Hơn nữa, việc thiếu thông tin và nhận thức về quyền lợi của người lao động tàn tật cũng là một vấn đề lớn.

2.1. Vi phạm quyền lợi của người lao động tàn tật

Nhiều người lao động tàn tật không được ký hợp đồng lao động, không có bảo hiểm xã hội và không được hưởng các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật. Điều này dẫn đến việc họ không có sự bảo vệ cần thiết khi gặp rủi ro trong công việc.

2.2. Thiếu sự hỗ trợ từ chính sách

Chính sách hỗ trợ cho người lao động tàn tật còn thiếu và chưa được thực hiện hiệu quả. Nhiều chương trình đào tạo nghề cho người tàn tật chưa được triển khai rộng rãi, dẫn đến việc họ không có cơ hội nâng cao kỹ năng và tìm kiếm việc làm.

III. Giải pháp cải thiện pháp luật lao động tàn tật tại Việt Nam

Để cải thiện tình hình lao động tàn tật, cần có những giải pháp đồng bộ từ phía nhà nước và xã hội. Việc hoàn thiện các quy định pháp luật, tăng cường công tác tuyên truyền và giáo dục về quyền lợi của người lao động tàn tật là rất cần thiết.

3.1. Hoàn thiện quy định pháp luật

Cần xem xét và sửa đổi các quy định pháp luật hiện hành để đảm bảo quyền lợi cho người lao động tàn tật. Việc xây dựng một bộ luật riêng về lao động tàn tật có thể giúp bảo vệ quyền lợi của họ tốt hơn.

3.2. Tăng cường hỗ trợ đào tạo nghề

Các chương trình đào tạo nghề cần được thiết kế đặc biệt cho người lao động tàn tật, giúp họ có cơ hội học tập và phát triển kỹ năng. Điều này không chỉ giúp họ có việc làm mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về lao động tàn tật

Nghiên cứu về lao động tàn tật đã chỉ ra rằng việc áp dụng các chính sách hỗ trợ có thể cải thiện đáng kể tình hình việc làm của họ. Các mô hình doanh nghiệp xã hội đã cho thấy hiệu quả trong việc tạo ra việc làm cho người tàn tật.

4.1. Mô hình doanh nghiệp xã hội

Mô hình doanh nghiệp xã hội đã chứng minh được tính khả thi trong việc tạo ra việc làm cho người lao động tàn tật. Những doanh nghiệp này không chỉ tạo ra thu nhập mà còn giúp họ hòa nhập vào cộng đồng.

4.2. Kết quả từ các chương trình hỗ trợ

Các chương trình hỗ trợ từ chính phủ và tổ chức phi chính phủ đã giúp nhiều người lao động tàn tật có cơ hội việc làm và cải thiện cuộc sống. Tuy nhiên, cần tiếp tục mở rộng và nâng cao hiệu quả của các chương trình này.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho lao động tàn tật

Tương lai của lao động tàn tật tại Việt Nam phụ thuộc vào sự cải thiện của hệ thống pháp luật và chính sách hỗ trợ. Cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa nhà nước, doanh nghiệp và xã hội để tạo ra một môi trường làm việc thân thiện và công bằng cho người lao động tàn tật.

5.1. Tầm quan trọng của sự hợp tác

Sự hợp tác giữa các bên liên quan là rất quan trọng để đảm bảo quyền lợi cho người lao động tàn tật. Các doanh nghiệp cần nhận thức rõ về trách nhiệm của mình trong việc tạo ra cơ hội việc làm cho họ.

5.2. Định hướng phát triển bền vững

Định hướng phát triển bền vững cho lao động tàn tật cần được xây dựng dựa trên các nguyên tắc công bằng và bình đẳng. Cần có các chính sách dài hạn để hỗ trợ họ trong việc hòa nhập vào thị trường lao động.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls pháp luật về lao động tàn tật ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Khái quát chung về lao động tàn tật và sự cần thiết phái có những quy định riêng đối với lao động tàn tật. Các quy định pháp lý hiện hành về lao động tàn tật và thực tiễn áp dụng ở Việt Nam Chương 3. Hoàn thiện pháp luật về lao động tàn tật ở Việt Nam 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LAO ĐỘNG TÀN TẬT VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI CÓ NHỮNG QUY ĐỊNH RIÊNG ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG TÀN TẬT 1.

Lao động tàn tật – Một loại lao động có đặc điểm riêng 1.1 Lao động có đặc điểm riêng theo pháp luật lao động Việt Nam Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001), một văn bản pháp lý có hiệu lực cao nhất của nước ta đã ghi nhận: “Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân” (Điều 55) và “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” (Điều 52). Như vậy, quyền và nghĩa vụ lao động là một phạm trù pháp lý phổ biến áp dụng với mọi công dân Việt Nam, điều này cũng phù hợp với Tuyên ngôn của Đại hội đồng Liên hiệp quốc về quyền con người (năm 1948). Trong Bộ luật lao động Việt nam có nêu “Người lao động là người có ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động: (Điều 6). Song có một thực tế là trong số những người lao động đáp ứng cả ba yếu tố trên không phải đều tham gia vào quan hệ lao động một cách giống nhau.

Xuất phát từ tính chất, đặc điểm của ngành nghề, công việc cũng như đặc điểm riêng của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ lao động mà ngoài những quy định chung cho mọi người lao động, Bộ luật lao động đã dành riêng Chương XI, quy định lao động có tính đặc thù. Cần phải lưu ý rằng, việc quy định một số chế độ lao động áp dụng riêng cho một số lao động đặc biệt không phải là một đặc quyền, đặc lợi mà xuất phát từ hoàn cảnh thực tế khách quan, từ nhu cầu chính đáng của lao động này, giúp họ giảm bớt những khó khăn, thiệt thòi trong cuộc sống, hòa nhập với cộng đồng và bảo vệ họ khi tham gia vào quan hệ lao động. Như vậy, có thể hiểu lao động có đặc điểm riêng là hệ thống các quy phạm điều chỉnh một số quan hệ lao động có những yếu tố đặc thù nhằm bảo vệ những lợi ích của bản thân người lao động cũng như lợi ích chung của xã hội. Trong điều kiện hiện nay, lao động có đặc điểm riêng được coi như một chế định của luật lao động Việt Nam, chế định này được phân loại dựa trên một số yếu tố cơ bản và có tính phổ biến sau: 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ nhất, xuất phát từ những đặc điểm của bên chủ thể là người lao động có: - Lao động nữ - Lao động chưa thành niên - Lao động là người tàn tật - Lao động là người cao tuổi - Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao - Lao động là người nước ngoài Thứ hai, xuất phát từ những đặc điểm của bên chủ thể là người sử dụng lao động có: - Lao động cho tổ chức, cá nhân nước ngoài - Lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài - Lao động ở những nơi sử dụng dưới 10 người lao động Thứ ba, xuất phát từ những đặc điểm, tính chất của công việc có: - Lao động nghệ thuật - Lao động làm việc tại nhà - Lao động giúp việc gia đình Cho đến nay, ở nước ta chưa có tiêu chí và phân loại thống nhất về người tàn tật cũng như lao động tàn tật.

Theo báo cáo của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tại Tờ trình Chính phủ về Dự án luật người khuyết tật số 45/TTr- LĐTBXH ngày 07 tháng 8 năm 2009 thì cả nước hiện có khoảng 5,3 triệu người tàn tật, chiếm 6,34% dân số. Trong đó: 29,41% tàn tật vận động, 16,82% tâm thần, 17% đa dạng tật, 13,84% thị giác, các dạng tật thính giác, ngôn ngữ, trí tuệ chiếm tỷ lệ thấp hơn (từ 6 – 10%). Nguyên nhân gây ra tàn tật có tới 35,8% bẩm sinh, do bệnh tật chiếm 32,24%; do hậu quả chiến tranh là 25,56%, còn lại là các nguyên nhân khác như tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và tai nạn giao thông… Dự báo trong nhiều năm tới số lượng người tàn tật ở Việt Nam chưa giảm do tác động của ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng của chất độc hóa học do 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam, tai nạn giao thông và tai nạn lao động, hậu quả thiên tai. Trong số những người tàn tật thì trên 69% đang ở độ tuổi lao động.

Đại bộ phận lao động tàn tật không thể sống tự lập, khoảng 70% phải sống dựa vào gia đình, chỉ có khoảng 30% có hoạt động tạo thu nhập bằng các nghề thủ công truyền thống. 93,4% người khuyết tật từ 16 tuổi trở lên không có chuyên môn kỹ thuật; số có chứng chỉ nghề chỉ có khoảng 6,5%.2 Lao động tàn tật – Một loại lao động có đặc điểm riêng 1.1 Khái niệm lao động tàn tật Cơ sở xác định ai sẽ được công nhận là người tàn tật và từ đó được bảo vệ bởi hệ thống luật pháp liên quan, phụ thuộc rất nhiều vào mục tiêu mà luật hoặc các chính sách cụ thể đó theo đuổi. Do vậy, không có một khái niệm chung nào về người tàn tật có thể được áp dụng cho tất cả các văn bản pháp luật. Có hai cách tiếp cận khác nhau cho khái niệm này như sau: Định nghĩa nhắm tới đối tượng hưởng lợi ở quy mô hẹp và đồng nhất, có liên quan đến suy giảm khả năng, được sử dụng để xây dựng các văn bản luật với mục tiêu hỗ trợ về mặt vật chất hoặc tài chính cho từng cá nhân tàn tật, hoặc người sử dụng lao động tàn tật.

Định nghĩa khác mang ý nghĩa bao quát hơn nhằm bảo vệ những người tàn tật khỏi bị phân biệt đối xử, định nghĩa này có đối tượng bảo vệ rộng hơn, bao gồm cả những người tàn tật nhẹ. Ở Trung Quốc, Luật của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về bảo vệ người khuyết tật ban hành năm 1990 định nghĩa người khuyết tật là người bị mất khả năng về nhìn, nghe, nói hoặc về thể chất, mất khả năng về trí não, rối loạn tâm thần, khuyết tật bị đa tật và/hoặc các dạng khuyết tật khác [34, tr. Định nghĩa này mang tính bao quát, đã nêu thế nào là tàn tật, khuyết tật, làm cơ sở cho việc bảo vệ người tàn tật khỏi bị phân biệt đối xử. Ở Ấn Độ, Luật về người khuyết tật ban hành năm 1995 (về cơ hội bình đẳng, bảo vệ quyền và đảm bảo cho người khuyết tật tham gia mọi hoạt động xã 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hội) định nghĩa khuyết tật bao gồm tình trạng bị mù, nghe kém, lành bệnh phong, thính lực kém, suy giảm khả năng vận động, chậm phát triển trí óc và mắc bệnh về tâm thần; trong khi đó định nghĩa về người khuyết tật lại được nêu “một người bị bất kỳ một khuyết tật nào không dưới bốn mươi phần trăm theo xác nhận của một cơ quan y tế có thẩm quyền” [34, tr.

Như vậy, về người khuyết tật, luật pháp Ấn Độ có 2 định nghĩa, một là về khuyết tật, với mục đích chống phân biệt đối xử đối với người khuyết tật, còn định nghĩa dạng thứ hai nhằm hướng tới đối tượng hẹp hơn, có khuyết tật từ 40% trở lên. Luật bình đẳng về việc làm của Nam Phi định nghĩa người khuyết tật là “người bị suy giảm khả năng về thể lực hoặc trí lực trong một thời gian dài hoặc tiếp diễn nhiều lần, khiến cho người đó bị hạn chế đáng kể về khả năng tham gia hoặc phát triển trong nghề nghiệp [34, tr. Đây cũng là một loại định nghĩa với phạm vi điều chỉnh rộng, bao quát, với mục tiêu bình đẳng về việc làm giữa người khyết tật và người không bị khuyết tật. Theo quan điểm của Tổ chức y tế thế giới, người tàn tật (person with disability) là người khi họ bị giảm chức năng và hạn chế sự tham gia các hoạt động xã hội, là kết quả của sự kết hợp tình trạng cá nhân như bệnh tật, chấn thương hoặc các rối loạn chức với các yếu tố môi trường cản trở.

Đây là định nghĩa dạng bao quát, nhằm chống phân biệt đối xử với người tàn tật. Việc quan tâm của xã hội đến những người tàn tật không chỉ bằng những khoản trợ cấp xã hội, cái quý hơn là giúp họ tự lực và cải thiện đời sống, tạo điều kiện cho họ thể hiện mình là người vẫn có ích cho xã hội. Các nước trên thế giới ngày càng chú ý đến lao động là người tàn tật. Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã có hai Công ước về lao động tàn tật, đó là Công ước số 128 ban hành năm 1967 và Công ước số 159 ban hành năm 1983 về tái thích ứng cho lao động là người tàn tật.

Theo quan điểm của Việt Nam, trong Nghị định số 81/CP của Chính phủ ngày 23 tháng 11 năm 1995: “Người tàn tật nói trong Nghị định này là người mà khả năng lao động bị suy giảm từ 21% trở lên do tàn tật, được Hội đồng 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giám định y khoa xác nhận”. Đây là một định nghĩa được nêu trong Nghị định hướng dẫn Bộ luật lao động nên phạm vi hướng tới của nó hẹp, chỉ là các đối tượng “suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên” có giám định y khoa. Định nghĩa này không nêu rõ thế nào là “tàn tật” mà chỉ đưa ra hậu quả của thương tật. Đến năm 1998, tại Điều 1, Pháp lệnh người tàn tật số 06/1998/PL- UBTVQH10 có nêu: “Người tàn tật theo quy định của Pháp lệnh này không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn”.

Đây là một khái niệm hết sức bao quát về người tàn tật, làm cơ sở để xác định ai là người tàn tật. Khái niệm cũng làm cơ sở cho việc xây dựng khái niệm lao động tàn tật sau này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ