Luận văn thạc sĩ về quyền việc làm của người khuyết tật theo pháp luật Việt Nam

Luận văn thạc sĩ VNU LS phân tích quyền việc làm của người khuyết tật theo pháp luật Việt Nam, góp phần nâng cao nhận thức xã hội.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

80
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT

1.1. Khái niệm người khuyết tật

1.2. Khái niệm và ý nghĩa quyền việc làm của người khuyết tật

1.3. Điều chỉnh pháp luật về quyền việc làm của người khuyết tật

1.4. Khái niệm và nguyên tắc điều chỉnh pháp luật về quyền việc làm của người khuyết tật

1.5. Nội dung điều chỉnh pháp luật về quyền việc làm của người khuyết tật

1.6. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH

2.1. Các quyền việc làm của người khuyết tật và thực tiễn thực hiện

2.2. Quyền được bảo đảm quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm và nơi làm việc

2.3. Quyền được bình đẳng, không bị phân biệt đối xử về cơ hội tìm kiếm việc làm

2.4. Quyền được làm việc trong điều kiện an toàn lao động, vệ sinh lao động

2.5. Các biện pháp đảm bảo quyền việc làm của người khuyết tật và thực tiễn thực hiện

2.6. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUYỀN VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT

3.1. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về quyền việc làm của người khuyết tật

3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền việc làm của người khuyết tật

3.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quyền việc làm của người khuyết tật

3.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về quyền việc làm của người khuyết tật theo pháp luật Việt Nam

Quyền việc làm của người khuyết tật là một vấn đề quan trọng trong việc đảm bảo sự bình đẳng và hòa nhập xã hội. Theo pháp luật Việt Nam, người khuyết tật được công nhận quyền lợi trong việc tìm kiếm và thực hiện công việc phù hợp với khả năng của họ. Điều này không chỉ giúp họ có thu nhập mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống và khẳng định giá trị bản thân trong xã hội. Tuy nhiên, thực tế cho thấy vẫn còn nhiều rào cản trong việc thực hiện quyền này.

1.1. Khái niệm và ý nghĩa quyền việc làm của người khuyết tật

Quyền việc làm của người khuyết tật được hiểu là quyền được làm việc, tự do lựa chọn công việc và nơi làm việc mà không bị phân biệt. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc khẳng định nhân phẩm và giá trị của người khuyết tật trong xã hội.

1.2. Các quy định pháp luật liên quan đến quyền việc làm

Pháp luật Việt Nam đã có nhiều quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của người khuyết tật trong lĩnh vực lao động. Các văn bản pháp luật như Luật Người khuyết tật và Bộ luật Lao động đã đưa ra những quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật trong việc làm.

II. Thách thức trong việc thực hiện quyền việc làm của người khuyết tật

Mặc dù có nhiều quy định pháp luật, nhưng việc thực hiện quyền việc làm của người khuyết tật vẫn gặp nhiều thách thức. Những rào cản này không chỉ đến từ chính sách mà còn từ nhận thức của xã hội và môi trường làm việc.

2.1. Nhận thức xã hội về người khuyết tật

Nhiều người vẫn có định kiến về khả năng lao động của người khuyết tật, dẫn đến việc họ không được tạo điều kiện làm việc. Điều này ảnh hưởng lớn đến tâm lý và sự tự tin của người khuyết tật.

2.2. Thiếu cơ sở vật chất và hỗ trợ

Nhiều nơi làm việc không được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất để hỗ trợ người khuyết tật, khiến họ gặp khó khăn trong việc tiếp cận và thực hiện công việc.

III. Phương pháp cải thiện quyền việc làm cho người khuyết tật

Để nâng cao hiệu quả thực hiện quyền việc làm cho người khuyết tật, cần có những phương pháp và giải pháp cụ thể. Các biện pháp này không chỉ giúp cải thiện tình hình việc làm mà còn nâng cao nhận thức của xã hội.

3.1. Tăng cường giáo dục và đào tạo nghề

Cần có các chương trình giáo dục và đào tạo nghề phù hợp với khả năng của người khuyết tật, giúp họ có thể tham gia vào thị trường lao động một cách hiệu quả.

3.2. Thúc đẩy chính sách hỗ trợ việc làm

Chính phủ cần có các chính sách hỗ trợ cụ thể cho người khuyết tật, như ưu đãi thuế cho doanh nghiệp tuyển dụng người khuyết tật, nhằm khuyến khích họ tham gia vào lực lượng lao động.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về quyền việc làm

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc thực hiện quyền việc làm cho người khuyết tật không chỉ mang lại lợi ích cho bản thân họ mà còn cho xã hội. Các doanh nghiệp có thể tận dụng được nguồn nhân lực đa dạng và sáng tạo từ người khuyết tật.

4.1. Các mô hình thành công trong việc làm cho người khuyết tật

Một số doanh nghiệp đã áp dụng mô hình tuyển dụng người khuyết tật thành công, tạo ra môi trường làm việc thân thiện và hỗ trợ, từ đó nâng cao hiệu quả công việc.

4.2. Kết quả từ các chương trình hỗ trợ việc làm

Các chương trình hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật đã giúp nhiều người tìm được việc làm ổn định, cải thiện thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống.

V. Kết luận và tương lai của quyền việc làm cho người khuyết tật

Quyền việc làm của người khuyết tật là một vấn đề cần được quan tâm và cải thiện liên tục. Tương lai của quyền này phụ thuộc vào sự nỗ lực của cả xã hội trong việc tạo ra môi trường làm việc bình đẳng và không phân biệt.

5.1. Tầm quan trọng của sự hợp tác giữa các bên

Sự hợp tác giữa chính phủ, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội là rất cần thiết để đảm bảo quyền lợi cho người khuyết tật trong lĩnh vực việc làm.

5.2. Định hướng phát triển trong tương lai

Cần có các chiến lược dài hạn nhằm nâng cao nhận thức và tạo điều kiện thuận lợi cho người khuyết tật tham gia vào thị trường lao động, từ đó góp phần xây dựng một xã hội công bằng và bình đẳng.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls quyền việc làm của người khuyết tật theo pháp luật việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN VIỆC LÀM CỦA NGƢỜI KHUYẾT TẬT VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT 1. Khái niệm ngƣời khuyết tật Khi luật pháp đƣợc xây dựng nhằm loại bỏ những bất công mà NKT đang phải gánh chịu, xóa bỏ các cơ chế khiến NKT bị tách biệt ra ngoài xã hội, đồng thời tăng cƣờng các cơ hội việc làm bình đẳng cho họ, thì một vấn đề đƣợc đặt ra là làm thế nào để xác định ai là ngƣời đƣợc hƣởng những quyền mà luật pháp đem lại. Nói một cách khác: ai đƣợc xem là NKT? Hiện nay đa số các nƣớc định nghĩa về NKT là có sự kết hợp giữa ngƣời khiếm khuyết và các yếu tố môi trƣờng và tiếp cận dƣới nhiều góc độ khác nhau. * Dưới góc độ pháp luật quốc tế Cách nhìn nhận về NKT có những thay đổi nhất định qua từng thời kì khác nhau.

Nếu nhƣ những năm 1950 NKT đƣợc nhìn nhận theo mô hình “chăm sóc y tế”, theo đó NKT bị coi là các “đối tượng” của “phúc lợi xã hội” mà không phải là các chủ thể có quyền nhƣ một công dân bình thƣờng [34]. Thì đến những năm 1970, cách nhìn nhận NKT đã có sự thay đổi, theo đó những NKT là những ngƣời có khả năng, có quyền sống và lao động nhƣ những ngƣời bình thƣờng chứ không phải là một đối tƣợng cần nhận sự “chiếu cố” của xã hội. Quá trình chuyển biến nhận thức về NKT là kết quả đấu tranh bằng nhiều hình thức khác nhau của bản thân NKT và các hiệp hội của họ xuất phát từ Hoa Kỳ sau đó lan rộng và phổ biến ở nhiều nƣớc nhƣ Thụy Điển, Nhật Bản, Brazil… và gần đây là Hàn Quốc, Thái Lan. Tƣ tƣởng cốt lõi của nhận thức mới này là các vấn đề về NKT đƣợc xem xét dƣới góc độ quyền con ngƣời, dựa trên quan điểm “tất cả mọi người đều có 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quyền được sống một cuộc sống đầy đủ và có phẩm giá” đã đƣợc ghi nhận trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con ngƣời năm 1948 [12].

Trên thực tế, hiện nay vẫn chƣa có cách nhìn nhận thống nhất, toàn diện về NKT. Lịch sử phát triển của vấn đề này cho thấy, có rất nhiều quan điểm khác nhau về NKT, tuy nhiên có hai quan điểm phổ biến song song cùng tồn tại, đó là: Quan điểm khuyết tật dưới góc độ y tế và quan điểm khuyết tật dưới góc độ xã hội. * Dưới góc độ y tế Quan điểm này cho rằng khuyết tật là do hạn chế cá nhân, là ở chính con ngƣời đó, chú trọng rất ít hoặc không để ý đến các yếu tố về môi trƣờng xã hội và môi trƣờng vật thể xung quanh NKT. Quan niệm này cho rằng NKT có thể hƣởng lợi từ phƣơng pháp khoa học nhƣ thuốc điều trị và các công nghệ cải thiện chức năng.

Mô hình y tế chú trọng vào việc trị liệu cá nhân chứ không xem trọng việc trị liệu xã hội và nhìn nhận NKT là một vấn đề và đƣa ra giải pháp để làm ngƣời đó “bình thường” thông qua việc cung cấp các dịch vụ giáo dục đặc biệt, giao thông đặc biệt, nghề trị liệu, vật lý trị liệu… Nhƣ đã trình bày, định nghĩa theo quan điểm y tế thƣờng tập trung vào sự khiếm khuyết về thể trạng, tinh thần, thính giác, thị giác và sức khỏe tâm thần… Trên cơ sở đó, nhiều quốc gia định nghĩa về NKT theo quan niệm này. Chẳng hạn: Luật của nƣớc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về bảo vệ NKT ban hành năm 1990, Điều 2 quy định: Ngƣời khuyết tật là một trong những ngƣời bị bất thƣờng, mất mát của một cơ quan nhất định hoặc chức năng, tâm lý hay sinh lý, hoặc trong cấu trúc giải phẫu và những ngƣời đã mất toàn bộ hoặc một phần khả năng tham gia vào các hoạt động một cách bình thƣờng. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngƣời khuyết tật là những ngƣời có thính giác, thị giác, lời nói hoặc khuyết tật về thể chất, chậm phát triển tâm thần, rối loạn tâm thần, khuyết tật nhiều và /hoặc khuyết tật khác [7]. Hay nhƣ Luật về Ngƣời khuyết tật ban hành năm 1995 của Ấn Độ (về cơ hội bình đẳng, bảo vệ quyền và đảm bảo cho NKT tham gia mọi hoạt động xã hội) thì định nghĩa khuyết tật bao gồm những tình trạng bị mù, nghe kém, lành bệnh phong; thị lực kém; suy giảm khả năng vận động; chậm phát triển trí óc và mắc bệnh về tâm thần.

Trong khi đó định nghĩa về NKT lại đƣợc nêu: “Một người bị bất kỳ một khuyết tật nào không dưới 40% theo xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền” [34]. Đạo luật số 7277 với tên gọi là “Đạo luật tạo nên sự phục hồi chức năng, tự phát triển và tự tin cho người khuyết tật và hòa nhập người khuyết tật vào xã hội và các mục đích khác”, đƣợc thông qua bởi Thƣợng nghị viện và Hạ nghị viện của Quốc hội Phillipines vào ngày 12 tháng 7 năm 1991 thì quy định: “Người khuyết tật – là người có sự khác biệt về khả năng và hạn chế do khiếm khuyết về giác quan, vận động, và tâm thần để thực hiện một hoạt động được coi là bình thường”. Nhƣ vậy, quan điểm khuyết tật dƣới góc độ y tế nhìn nhận NKT nhƣ những ngƣời có vấn đề về thể chất và cần phải chữa trị. Điều này đã đẩy những NKT vào thế bị động của ngƣời bệnh.

Mục tiêu của hƣớng tiếp cận y tế là làm cho những NKT cảm thấy trở lại trạng thái bình thƣờng nhƣng vô hình trung lại khiến cho những NKT cảm thấy họ không bình thƣờng. Theo đó vấn đề khuyết tật đƣợc cho là hạn chế ở từng cá nhân. Khi bị khuyết tật những ngƣời này “cần phải thay đổi” chứ không phải xã hội hay môi trƣờng xung quanh phải thay đổi. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com * Dưới góc độ xã hội Vào cuối những năm 1990, mô hình xã hội trở nên khá nổi trội trong những nghiên cứu khuyết tật trên thế giới.

Mô hình xã hội là mô hình có cơ sở lý thuyết và có quy tắc riêng đƣợc coi là nền tảng của những biến chuyển về vấn đề NKT. Trong mô hình xã hội, khuyết tật đƣợc nhìn nhận là hệ quả bị xã hội loại trừ và phân biệt. Bởi vì xã hội đƣợc tổ chức không tốt nên những NKT phải đối mặt với một số phân biệt đối xử nhƣ: (1) Thái độ: thể hiện sự sợ hãi, sự thiếu hiểu biết và ít kỳ vọng (ảnh hƣởng bởi văn hóa và tín ngƣỡng); (2) Môi trường: dẫn đến việc không tiếp cận về vật chất, ảnh hƣởng đến tất cả các mặt của đời sống (trƣờng học, cửa hàng, tòa nhà công cộng, giao thông…); (3) Thể chế: là những phân biệt mang tính pháp lý (ví dụ nhƣ không đƣợc lập gia đình hay có con, không đƣợc nhận vào trƣờng học…). Mô hình xã hội về khuyết tật cho rằng nhiều ngƣời bị khiếm khuyết ở các cách khác nhau nhƣng chỉ xã hội biến họ thành khuyết tật, “con người bị khiếm khuyết nhưng xã hội bị khuyết tật”.

Nói cách khác, mô hình xã hội khuyết tật coi xã hội là vấn đề, giải pháp là phải thay đổi xã hội. Chính xã hội và chính sách cần phải cải tổ chứ không phải NKT. Mô hình xã hội giúp NKT hiểu điều gì cần thực hiện để tiếp cận với quyền công dân và quyền con ngƣời. Điều ý nghĩa ở đây chính là NKT cũng phải nhận thức đƣợc đầy đủ các nghĩa vụ của mình với tƣ cách là một công dân trong mọi lĩnh vực đời sống, kinh tế, chính trị, xã hội mà mình tham gia.

Định nghĩa NKT theo quan điểm xã hội là sự kết hợp giữa sự khiếm khuyết và các yếu tố môi trƣờng và tiếp cận dƣới góc độ quyền của NKT. Do 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đó trên thế giới cũng có nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế phi chính phủ tiếp cận định nghĩa về NKT dƣới góc độ của quan điểm này, điển hình phải kể đến đầu tiên là hai công ƣớc: Công ƣớc số 159 của ILO về phục hồi chức năng lao động và việc làm của NKT (năm 1983), khoản 1, Điều 1 quy định: Ngƣời khuyết tật dùng để chỉ một cá nhân mà khả năng có một việc làm phù hợp, trụ lâu dài với công việc đó và thăng tiến với nó bị giảm sút đáng kể do hậu quả của một khiếm khuyết về thể chất và tâm thần đƣợc thừa nhận và Công ước về Quyền của Người khuyết tật của Liên hợp quốc (năm 2006), Điều 1 quy định: Ngƣời khuyết tật bao gồm những ngƣời bị suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnh hƣởng qua lại với hàng loạt những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của ngƣời khuyết tật vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những ngƣời khác [34]. Sau đó là hàng loạt các quốc gia trên thế giới như: Sách Số chín của Bộ luật xã hội của Đức định nghĩa: Ngƣời khuyết tật là ngƣời có các chức năng về thể lực, trí lực hoặc tâm lý tiến triển không bình thƣờng so với ngƣời có cùng độ tuổi trong thời gian trên 6 tháng và sự không bình thƣờng này là nguyên nhân dẫn đến việc họ bị hạn chế tham gia vào cuộc sống xã hội [22, tr. Luật bình đẳng về việc làm của Nam phi định nghĩa NKT là: Ngƣời bị suy giảm khả năng về thể lực hoặc trí lực trong một thời gian dài hoặc tiếp diễn nhiều lần, khiến ngƣời đó bị hạn chế đáng kể về khả năng tham gia hoặc phát triển nghề nghiệp [24, tr.18]; 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đạo luật về NKT của Hoa Kỳ năm 1990 (ADA – Americans with Dis- abilities Act of 1990) định nghĩa: Ngƣời khuyết tật là ngƣời có sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hƣởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống [35].

Có thể thấy, cách tiếp cận NKT ở các góc độ khác nhau giữa quan điểm khuyết tật cá nhân hoặc y tế có tác dụng tốt trong một số lĩnh vực đem lại cho ta những cái nhìn khách quan nhất về thế nào là NKT và để đƣa ra khái niệm thuyết phục và thống nhất về NKT là không dễ dàng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Quyền việc làm của người khuyết tật theo pháp luật Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các quyền lợi và chính sách hỗ trợ người khuyết tật trong lĩnh vực việc làm tại Việt Nam. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tạo ra môi trường làm việc bình đẳng và công bằng cho người khuyết tật, đồng thời nêu rõ các quy định pháp luật hiện hành nhằm bảo vệ quyền lợi của họ. Độc giả sẽ nhận được thông tin hữu ích về các chính sách, chương trình hỗ trợ, cũng như những thách thức mà người khuyết tật phải đối mặt trong quá trình tìm kiếm việc làm.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Hỗ trợ học nghề cho người khuyết tật, nơi trình bày các hoạt động công tác xã hội nhằm giúp người khuyết tật có cơ hội học tập và phát triển nghề nghiệp. Bên cạnh đó, tài liệu Quyền thành lập doanh nghiệp xã hội của người khuyết tật sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quyền lợi của họ trong việc khởi nghiệp và phát triển kinh doanh. Cuối cùng, tài liệu Vai trò của nhân viên công tác xã hội sẽ cung cấp cái nhìn về sự hỗ trợ từ các chuyên gia trong việc thực hiện chính sách cho người khuyết tật. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về quyền việc làm của người khuyết tật tại Việt Nam.