Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ sinh kế đối với người khuyết tật Chương 2: Thực trạng hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ sinh kế đối với người khuyết tật tại huyện Thuận Thành – tỉnh Bắc Ninh Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xã hội trong hoạt động hỗ trợ sinh kế cho người khuyết tật tại huyện Thuận Thành – tỉnh Bắc Ninh 17 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ SINH KẾ ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT 1. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Khái niệm về sinh kế Sinh kế được hiểu theo nghĩa rộng là bao gồm khả năng, nguồn vốn, tài sản và các hoạt động kiếm sống cần thiết. Một sinh kế có thể được miêu tả như là sự tập hợp các nguồn lực và khả năng mà con người có được, kết hợp với quyết định và hoạt động mà họ thực thi để kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ.
Sinh kế được coi là bền vững khi có thể đương đầu và vượt qua những áp lực và sốc, duy trì hoặc nâng cao khả năng cũng như tài sản ở cả hiện tại và tương lai nhưng không ảnh hưởng xấu đến cơ sở tài nguyên tự nhiên [11]. Khái niệm khuyết tật Theo TS. Margaret Chan – Tổng Giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Orgazination) “Hầu hết mỗi người chúng ta có thể mất khả năng hoạt động bình thường tạm thời hoặc vĩnh viễn tại một thời điểm nào đó”; như vậy giữa người bình thường và NKT hầu như không có ranh giới rõ rệt và hết sức mong manh.Trên thế giới Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO), năm 1999 có ba mức độ suy giảm là: khiếm khuyết (impairment), khuyết tật (disability) và tàn tật (handicap). Khiếm khuyết chỉ đến sự mất mát hoặc không bình thường của cấu trúc cơ thể liên quan đến tâm lý hoặc/và sinh lý.
Khuyết tật chỉ đến sự giảm thiểu chức năng hoạt động, là hậu quả của sự khiếm khuyết. Tàn tật đề cập đến tình thế bất lợi hoặc thiệt thòi của người mang khiếm khuyết do tác động của môi trường xung quanh lên tình trạng khuyết tật của họ. Theo Đạo luật chống phân biệt đối xử với người khuyết tật 18 do Quốc hội Anh ban hành (Disability Discrimination Act – DDA), khi xét về mặt thời gian tác động thì khiếm khuyết kéo dài hoặc sẽ có thể kéo dài mà ít hơn 12 tháng bình thường không được coi là khuyết tật, trừ phi là bị tái đi tái lại, một số người có khiếm khuyết kéo dài hơn một năm thì vẫn ở trong diện của DDA, cả khi họ sẽ được phục hồi hoàn toàn. Tại Việt Nam Đối với đa số người Việt Nam, khuyết tật và tàn tật là hai từ để chỉ cùng một khái niệm, từ năm 2009 trở về trước người ta vẫn dùng song song chúng trên cả phương tiện truyền thông đại chúng và văn bản pháp quy.
Trong các Pháp lệnh trước đây của Nhà nước Việt Nam, tàn tật là cụm từ được chính thức sử dụng, song theo dự thảo năm 2009, từ khuyết tật nhiều khả năng sẽ được dùng để thay thế từ tàn tật trong các Bộ luật. Năm 2010, Quốc hội Việt Nam đã chính thức sử dụng cụm từ NKT thay cho người tàn tật trong các Bộ luật ban hành có liên quan. Khái niệm người khuyết tật Theo Đạo luật về người khuyết tật của Hoa Kỳ năm 1990 (Americans with Disabilities Act of 1990 - ADA), định nghĩa NKT là người có sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống. Cũng theo ADA những ví dụ cụ thể về khuyết tật bao gồm: khiếm khuyết về vận động, thị giác, nói và nghe, chậm phát triển tinh thần, bệnh cảm xúc và những khiếm khuyết cụ thể về học tập, bại não, động kinh, teo cơ, ung thư, bệnh tim, tiểu đường, các bệnh lây và không lây như bệnh lao và bệnh do HIV (có triệu chứng hoặc không có triệu chứng).
Có sự thống nhất tương đối về định nghĩa thế nào là khuyết tật của hai đạo luật này. Tại Điều 1 của Công ước Quốc tế về quyền NKT ban hành năm 2006: “NKT bao gồm những người có khiếm khuyết lâu dài về thể chất, trí tuệ, thần kinh hoặc các giác quan mà khi tương tác với các rào cản khác nhau có thể 19 cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ trong xã hội trên nền tảng công bằng như những người khác trong xã hội”. Tại Việt Nam Đối với đa số người Việt Nam, khuyết tật và tàn tật là hai từ để chỉ cùng một khái niệm, từ năm 2009 trở về trước người ta vẫn dùng song song chúng trên cả phương tiện truyền thông đại chúng và văn bản pháp quy. Trong các Pháp lệnh trước đây của Nhà nước Việt Nam, tàn tật là cụm từ được chính thức sử dụng, song theo dự thảo năm 2009, từ khuyết tật nhiều khả năng sẽ được dùng để thay thế từ tàn tật trong các Bộ luật.
Năm 2010, Quốc hội Việt Nam đã chính thức sử dụng cụm từ NKT thay cho người tàn tật trong các Bộ luật ban hành có liên quan. Căn cứ điều 2, Chương I, Luật Người khuyết tật được Quốc hội ban hành ngày 17 tháng 6 năm 2010: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn” [12, tr. Như vậy có nhiều quan điểm khác nhau về người khuyết tật, trong khuôn khổ luận văn tôi sử dụng khái niệm người khuyết tậttheo Luật Người khuyết tật được Quốc hội Việt Nam ban hành ngày 17 tháng 6 năm 2010. Khái niệm về dạng tật Theo Điều 2 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 thì dạng khuyết tật được hiểu là những biểu hiện thực thể bên ngoài của người khuyết tật và là căn cứ để xếp loại các nhóm khuyết tật.
Theo quy định dạng mức độ khuyết tật hiện nay gồm 6 dạng như sau [6]: Thứ nhất, khuyết tật vận động là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển. Thứ hai, khuyết tật nghe, nói là tình trạng giảm hoặc mất chức năng nghe, nói hoặc cả nghe và nói, phát âm thành tiếng và câu rõ ràng dẫn đến hạn 20 chế trong giao tiếp, trao đổi thông tin bằng lời nói. Thứ ba, khuyết tật nhìn là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảm nhận ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môi trường bình thường. Thứ tư, khuyết tật thần kinh, tâm thần là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành động bất thường.
Thứ năm, khuyết tật trí tuệ là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tượng, giải quyết sự việc. Thứ sáu, khuyết tật khác là tình trạng giảm hoặc mất những chức năng cơ thể khiến cho hoạt động lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn mà không thuộc các trường hợp trên. Khái niệm về công tác xã hội với người khuyết tật Công tác xã hội với người khuyết tật là hoạt động chuyên nghiệp của nhân viên công tác xã hội giúp đỡ những người khuyết tật tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ, huy động nguồn lực, xác định những dịch vụ cần thiết để hỗ trợ người khuyết tật, gia đình và cộng đồng triển khai hoạt động chăm sóc trợ giúp họ một cách có hiệu quả, vượt qua những rào cản, đảm bảo sự tham gia đầy đủ vào các hoạt động xã hội trên nền tảng sự cân bằng như những người khác trong xã hội. Khái niệm hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ sinh kế đối với người khuyết tật Là các hoạt động của nhân viên công tác xã hội hỗ trợ người khuyết tật trong dạy nghề và tạo việc làm, tiếp cận tín dụng, chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, giáo dục, hỗ trợ tiếp cận với các dịch vụ công cộng nhằm đảm bảo bình đẳng và quyền cho người khuyết tật để người khuyết tật phát huy khả năng của mình, đáp ứng nhu cầu của bản thân và góp phần vào phát triển đất nước.
Lý luận về hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ sinh kế đối với người khuyết tật 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm hỗ trợ Là sự giúp đỡ những người yếu thế, những người gặp khó khắn về kinh tế, về pháp luật hay các mối quan hệ trong xã hội. Giúp họ có thể vượt quá những khó khắn ấy một các dễ dàng.
Khái niệm sinh kế Sinh kế được hiểu theo nghĩa rộng là bao gồm khả năng, nguồn vốn, tài sản và các hoạt động kiếm sống cần thiết. Một sinh kế có thể được miêu tả như là sự tập hợp các nguồn lực và khả năng mà con người có được, kết hợp với quyết định và hoạt động mà họ thực thi để kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ. Sinh kế được coi là bền vững khi có thể đương đầu và vượt qua những áp lực và sốc, duy trì hoặc nâng cao khả năng cũng như tài sản ở cả hiện tại và tương lai nhưng không ảnh hưởng xấu đến cơ sở tài nguyên tự nhiên [11]. Khái niệm hỗ trợ sinh kế đối với người khuyết tật Là các hoạt động hỗ trợ can thiệp hay trợ giúp trực tiếp hoặc gián tiếp đối với người khuyết tật, hộ gia đình người khuyết tật để phát huy nguồn vốn sinh kế của bản thân người khuyết tật nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập và thay đổi cuộc sống.
Tầm quan trọng của việc hỗ trợ sinh kế 1. Đối với cá nhân người khuyết tật Công tác xã hội trong hỗ trợ sinh kế giúp cho người khuyết tật có cơ hội và khả năng tiếp cận các mặt của đời sống xã hội, tạo việc làm và thu nhập nuôi sống bản thân. Từ đó mà khả năng hòa nhập đời sống xã hội và tiếp cận các nguồn lực xã hội ngày càng cao, giúp cho người khuyết tật giảm thiểu rủi ro, đa dạng hóa sinh kế và tạo lập được sinh kế bền vững cho chính mình. Đối với gia đình người khuyết tật Tư vấn các dịch vụ xã hội để hỗ trợ gia đình người khuyết tật và cộng đồng thực hiện các chức năng, vai trò của mình có hiểu quả.