Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp được thực hiện tại Khoa Kinh tế - Luật, Trường Đại học Thương mại, chuyên ngành Luật Kinh tế, dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Thái Trường. Đề tài tập trung nghiên cứu pháp luật về thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp kết hợp đánh giá thực tiễn áp dụng tại Công ty Cổ phần 19/9 – một đơn vị hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý doanh nghiệp.
Bối cảnh thực tiễn được tác giả nêu rõ xuất phát từ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam (gia nhập WTO, APEC và các hiệp định thương mại). Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế, quyền tự do kinh doanh của nhà đầu tư ngày càng được mở rộng, dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng về số lượng doanh nghiệp thành lập mới. Hoạt động đăng ký kinh doanh và thành lập doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng ở nhiều phương diện:
- Đối với Nhà nước: Là công cụ thể hiện sự bảo hộ pháp lý đối với hoạt động kinh doanh, hỗ trợ quản lý, kiểm soát các thành phần kinh tế và làm cơ sở hoạch định chính sách khuyến khích hoặc hạn chế kịp thời.
- Đối với chủ thể kinh doanh: Cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là căn cứ xác lập tư cách pháp lý, cho phép doanh nghiệp hoạt động chính thức dưới sự bảo hộ của pháp luật.
- Về mặt xã hội và kinh tế: Giúp công khai hóa hoạt động kinh doanh trên thị trường, tạo lập sự tin cậy trong giao dịch thương mại và đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế - xã hội.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm phát sinh từ sự chuyển giao khung khổ pháp lý: Luật Doanh nghiệp 2005 hết hiệu lực và được thay thế bằng Luật Doanh nghiệp 2014 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2015). Mặc dù Luật Doanh nghiệp 2014 được kỳ vọng tạo ra bước cải cách thủ tục hành chính, nhưng sau gần ba năm đi vào đời sống thực tiễn, việc áp dụng các quy định về điều kiện, hồ sơ, trình tự và sự phối hợp liên ngành vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn kỹ thuật.
Văn bản xác lập hai nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Chỉ ra thực trạng các quy phạm pháp luật về thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam; phân tích, bình luận và so sánh các quy định giữa Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật Doanh nghiệp 2014; từ đó đánh giá tác động, ảnh hưởng của các quy định này trong thực tiễn áp dụng tại Công ty Cổ phần 19/9.
- Trên cơ sở phân tích thực trạng lý luận và thực tiễn, đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề pháp lý điều chỉnh thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp và thực tiễn áp dụng tại các đơn vị cung cấp dịch vụ pháp lý doanh nghiệp (cụ thể là Công ty Cổ phần 19/9).
- Phạm vi nội dung: Các quy định pháp luật điều chỉnh điều kiện, hồ sơ, trình tự đăng ký thành lập doanh nghiệp; so sánh những điểm kế thừa và sửa đổi giữa Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật Doanh nghiệp 2014.
- Phạm vi không gian pháp lý và thực tiễn: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật gồm Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Đầu tư 2014, Hiến pháp năm 2013, Luật Luật sư 2006 (sửa đổi, bổ sung 2012), Nghị định số 78/2015/NĐ-CP, đối chiếu với Luật Doanh nghiệp 2005 và Nghị định số 43/2010/NĐ-CP; địa bàn khảo sát thực tiễn tại Công ty Cổ phần 19/9.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn thi hành Luật Doanh nghiệp 2014 từ thời điểm có hiệu lực (tháng 7/2015) đến thời điểm tác giả hoàn thành khóa luận (gần 3 năm áp dụng).
Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận thuộc loại hình nghiên cứu pháp lý kết hợp khảo sát tình huống thực tiễn (case study) tại một doanh nghiệp làm dịch vụ hồ sơ pháp lý.
Khung cơ sở lý luận và pháp lý bao gồm:
- Cơ sở chính trị và kinh tế: Đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng và Nhà nước; các yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế trong khuôn khổ WTO, APEC; chủ trương cải cách thủ tục hành chính công nhằm kiến tạo môi trường đầu tư thông thoáng.
- Khung văn bản quy phạm pháp luật: Hiến pháp năm 2013 (đặc biệt là nguyên tắc suy đoán vô tội tại Điều 31); Luật Doanh nghiệp năm 2014 (các điều khoản về điều kiện thành lập tại Điều 18, hồ sơ tại Điều 20-23, trình tự thủ tục tại Điều 27, nội dung Giấy chứng nhận tại Điều 29, công bố thông tin tại Điều 33, tên doanh nghiệp tại Điều 39 và 42, con dấu tại Điều 44, xác lập tư cách pháp nhân tại Điều 47, 73, 110, 172); Luật Đầu tư năm 2014 (quy định các ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh và ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện); Nghị định số 78/2015/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp (quy định khái niệm tại Điều 3, hệ thống cơ quan đăng ký kinh doanh tại Điều 13, nhiệm vụ cấp huyện tại Điều 15).
- Các nguyên tắc pháp lý nền tảng: Nguyên tắc công khai, minh bạch; nguyên tắc công bằng, bình đẳng trước pháp luật; nguyên tắc đơn giản, dễ hiểu và dễ thực hiện trong xây dựng và áp dụng thủ tục hành chính.
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận: Sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng để xem xét sự vận động, thay đổi của pháp luật doanh nghiệp trong mối liên hệ với điều kiện kinh tế - xã hội qua từng thời kỳ.
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp thu thập thông tin: Thu thập các văn bản quy phạm pháp luật, số liệu thống kê nhà nước và hồ sơ thực tế.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Mổ xẻ các điều luật, quy định kỹ thuật về hồ sơ, quy trình thẩm định, từ đó tổng hợp thành các nhóm vấn đề lý luận và thực tiễn.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh trực tiếp các điều khoản tương ứng giữa Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật Doanh nghiệp 2014 để làm rõ những điểm tiến bộ cũng như các quy định chưa tương thích.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Đánh giá quá trình lập hồ sơ, nộp, xử lý và nhận kết quả đăng ký doanh nghiệp tại Công ty Cổ phần 19/9.
Nguồn dữ liệu sử dụng:
- Dữ liệu pháp lý: Hệ thống luật, nghị định, thông tư của Việt Nam qua các thời kỳ (1999, 2005, 2014).
- Dữ liệu thống kê: Báo cáo số liệu chính thức của Tổng cục Thống kê về tình hình đăng ký doanh nghiệp, quy mô vốn và lao động trong năm 2015 (so sánh với năm 2014 và 2013).
- Dữ liệu thực tiễn: Hồ sơ, quy trình giải quyết vụ việc và phản ánh thực tế từ các chuyên viên, lãnh đạo tại Công ty Cổ phần 19/9.
- Dữ liệu học thuật kế thừa: Các công trình nghiên cứu trước đó như luận văn của Nguyễn Thị Loan (2000), Nguyễn Văn Hùng (2010), Nguyễn Thị Phương Thảo (2010), Nguyễn Thị Thu Hà (2013), Trần Tố Uyên (2005); các bài báo khoa học của Trần Huỳnh Thanh Nghị (2011), Nguyễn Thị Yến (2010), Nguyễn Tấn (2011).
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH THỦ TỤC ĐĂNG KÝ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP
Chương 1 tập trung xây dựng hệ thống khái niệm, vai trò, chủ thể, cơ sở ban hành và nội dung các nguyên tắc điều chỉnh thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp:
- Khái niệm: Khóa luận phân tích khái niệm dưới hai lăng kính:
- Góc độ kinh tế: Thành lập doanh nghiệp là việc nhà đầu tư chuẩn bị các điều kiện vật chất cần và đủ để hình thành một tổ chức kinh doanh (trụ sở, nhà xưởng, dây chuyền sản xuất, thiết bị, nhân sự, bộ máy quản lý).
- Góc độ pháp lý: Dẫn chiếu Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP, đăng ký doanh nghiệp là việc đăng ký thông tin dự kiến thành lập hoặc thay đổi thông tin với cơ quan đăng ký kinh doanh và được lưu giữ tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Từ đó, thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp được xác định là toàn bộ quy trình và cách thức mà người thành lập doanh nghiệp phải thực hiện để được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
- Vai trò của thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp: Tác giả luận giải 4 vai trò cốt lõi:
- Đánh dấu sự ra đời chính thức của thực thể kinh doanh được pháp luật công nhận, xác lập tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản ngân hàng, mã số thuế và mã số hải quan.
- Kết thúc giai đoạn bàn bạc nội bộ giữa các sáng lập viên, chuyển hóa các cam kết thành nghĩa vụ pháp lý và trách nhiệm tài sản ràng buộc trước Nhà nước.
- Xác lập giá trị pháp lý thi hành của Điều lệ công ty – văn bản nền tảng điều chỉnh toàn bộ cơ cấu tổ chức, phương thức quản trị và ra quyết định sau này.
- Tạo tiền đề tài chính và vật chất thông qua việc cấp giấy chứng nhận góp vốn cho các thành viên. Đối với cơ quan quản lý, thủ tục minh bạch giúp phân định rõ thẩm quyền cấp phép, tránh tình trạng giải quyết sai lệch hoặc đùn đẩy trách nhiệm.
- Chủ thể tham gia:
- Người thành lập doanh nghiệp: Các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đáp ứng đầy đủ điều kiện pháp luật Việt Nam quy định.
- Cơ quan đăng ký kinh doanh: Tổ chức ở hai cấp theo Điều 13 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP. Cấp tỉnh là Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư (Hà Nội và TP.HCM có thể lập thêm 1-2 phòng). Cấp huyện là Phòng Tài chính - Kế hoạch thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện đăng ký hộ kinh doanh.
- Nội dung pháp luật về điều kiện thành lập:
- Về chủ thể: Quy định cấm tại Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2014 đối với cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan lực lượng vũ trang, người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện/giáo dục bắt buộc.
- Về ngành nghề: Tuân thủ Luật Đầu tư 2014, gồm danh mục 6 ngành nghề cấm kinh doanh (chất ma túy; hóa chất/khoáng vật; mẫu vật động thực vật hoang dã nguy cấp theo CITES và Nhóm I; mại dâm; mua bán người, mô, bộ phận cơ thể; sinh sản vô tính trên người) và các ngành nghề kinh doanh có điều kiện (yêu cầu chứng chỉ hành nghề hoặc vốn pháp định).
- Về tên và con dấu: Tên không được trùng hoặc gây nhầm lẫn trên phạm vi toàn quốc (Điều 39, Điều 42); con dấu do doanh nghiệp tự quyết định số lượng, hình thức và nội dung (Điều 44).
- Về hồ sơ và trình tự: Quy định riêng cho doanh nghiệp tư nhân (Điều 20), công ty hợp danh (Điều 21), công ty TNHH (Điều 22) và công ty cổ phần (Điều 23). Trình tự gồm 3 bước: nộp hồ sơ tại Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh; tiếp nhận và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; công bố thông tin trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 30 ngày (Điều 33).
- Ba nguyên tắc pháp lý nền tảng: Nguyên tắc công khai, minh bạch; nguyên tắc công bằng, bình đẳng (không phân biệt thành phần kinh tế); nguyên tắc đơn giản, dễ hiểu và dễ thực hiện nhằm cắt giảm chi phí tuân thủ cho xã hội.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ THỦ TỤC ĐĂNG KÝ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN 19/9
Chương 2 phân tích diễn biến số liệu thành lập doanh nghiệp trên quy mô cả nước, đối chiếu các điểm cải cách của Luật Doanh nghiệp 2014 và phản ánh các vướng mắc qua thực tiễn tại Công ty Cổ phần 19/9:
- Bối cảnh số liệu thực tế năm 2015: Khóa luận trích dẫn số liệu chính thức của Tổng cục Thống kê phản ánh tác động tích cực của môi trường pháp lý mới trong năm đầu Luật Doanh nghiệp 2014 có hiệu lực:
| Chỉ tiêu thống kê doanh nghiệp |
Năm 2015 |
So sánh với năm 2014 |
Ghi chú diễn biến năm 2014 |
| Số doanh nghiệp thành lập mới |
94.754 doanh nghiệp |
Tăng 26,6% |
Năm 2014 giảm 2,7% so với năm 2013 |
| Tổng vốn đăng ký mới |
601,5 nghìn tỷ đồng |
Tăng 39,1% |
Năm 2014 tăng 8,4% so với năm 2013 |
| Vốn đăng ký bình quân / doanh nghiệp |
6,3 tỷ đồng |
Tăng 9,9% |
Tăng trưởng quy mô vốn doanh nghiệp |
| Lao động dự kiến tạo việc làm mới |
1.471,9 nghìn người |
Tăng 34,9% |
Giải quyết việc làm cho nền kinh tế |
- Cấu trúc và đổi mới lập pháp của Luật Doanh nghiệp 2014 so với Luật Doanh nghiệp 2005:
- Luật Doanh nghiệp 2014 gồm 10 chương, 213 điều (tăng 41 điều so với Luật Doanh nghiệp 2005). Trong đó, bổ sung hoàn toàn mới Chương IV quy định về Doanh nghiệp nhà nước với 22 điều.
- Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được đơn giản hóa: Khoản 1 Điều 29 rút gọn chỉ còn 04 nội dung chính (so với 10 nội dung bắt buộc của luật cũ), loại bỏ ngành nghề kinh doanh ra khỏi nội dung giấy chứng nhận, giúp doanh nghiệp linh hoạt kinh doanh những gì pháp luật không cấm.
- Thời gian xử lý hồ sơ giảm từ 5 ngày làm việc xuống còn 3 ngày làm việc (trước đây tách rời 2 ngày cấp mã số thuế và 3 ngày cấp đăng ký kinh doanh).
- Cơ chế con dấu thay đổi căn bản: Bãi bỏ quy định cơ quan công an cấp phép khắc dấu và cấp giấy chứng nhận mẫu dấu theo Nghị định số 58/2001/NĐ-CP; doanh nghiệp được quyền tự quyết định hình thức, số lượng, nội dung con dấu và chỉ cần thông báo mẫu dấu lên Cổng thông tin quốc gia trước khi sử dụng.
- Đánh giá bất cập trong quy định cấm tại Điểm e Khoản 2 Điều 18:
Tác giả phân tích sâu 5 nhóm chủ thể bị cấm và chỉ ra điểm bất hợp lý: Luật Doanh nghiệp 2014 cấm người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự thành lập và quản lý doanh nghiệp. Tác giả lập luận đây là "bước lùi" so với Luật Doanh nghiệp 2005 (Luật năm 2005 đã bãi bỏ quy định cấm vốn có từ Luật Doanh nghiệp 1999, chỉ cấm người đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị Tòa án cấm hành nghề). Quy định này chưa tương thích với nguyên tắc suy đoán vô tội tại Khoản 1 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 (người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật).
- Thực tiễn thực hiện thủ tục tại Công ty Cổ phần 19/9:
Công ty Cổ phần 19/9 là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ đại diện làm thủ tục pháp lý. Nghiên cứu thực tế tại công ty chỉ ra 4 bất cập điển hình:
- Người thực hiện thủ tục phải nộp hồ sơ 03 lần và trải qua 03 lần chờ nhận kết quả do các thủ tục liên quan (đăng ký doanh nghiệp, công bố thông tin, thủ tục con dấu và khai thuế) chưa được đồng bộ hóa triệt để.
- Biểu mẫu đăng ký mới và yêu cầu xây dựng Điều lệ công ty cập nhật theo Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 có nhiều điểm mới phức tạp, khiến các cá nhân tự làm hồ sơ gặp nhiều khó khăn, dễ sai sót.
- Quy định về con dấu dù đã mở rộng quyền tự chủ nhưng lại đặt ra yêu cầu phải chờ đủ 03 ngày sau khi thông báo mẫu dấu trên Cổng thông tin quốc gia mới được phép sử dụng con dấu, làm chậm tiến độ giao dịch thực tế của doanh nghiệp.
- Cơ chế yêu cầu người đăng ký thành lập doanh nghiệp phải nộp Phiếu lý lịch tư pháp khi cơ quan đăng ký kinh doanh yêu cầu là một khâu trung gian phiền hà. Việc người dân phải tự liên hệ cơ quan tư pháp xin cấp phiếu lý lịch rồi mang nộp lại cho cơ quan đăng ký kinh doanh làm mất nhiều thời gian, chi phí, thậm chí làm lỡ cơ hội kinh doanh của nhà đầu tư, đi ngược chủ trương rút ngắn thời gian khởi sự doanh nghiệp.
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ THỦ TỤC ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP
Chương 3 đề xuất 4 quan điểm chỉ đạo, 5 kiến nghị sửa đổi pháp luật và 3 giải pháp nâng cao hiệu lực thi hành:
- Bốn quan điểm định hướng hoàn thiện:
- Bảo đảm quyền tự do kinh doanh của công dân theo quy định của Hiến pháp, không hạn chế quyền kinh doanh những ngành nghề pháp luật không cấm.
- Nâng cao tính công khai, minh bạch của pháp luật, bảo đảm tính minh xác, rõ ràng và nhất quán trong toàn bộ hệ thống quy phạm.
- Tạo cơ sở pháp lý đồng bộ, nhất quán và có tính hệ thống giữa luật chung và luật chuyên ngành.
- Đáp ứng triệt để yêu cầu cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính, bãi bỏ các cấp, các khâu và các giấy tờ trung gian không cần thiết.
- Năm kiến nghị hoàn thiện quy phạm pháp luật cụ thể:
- Loại bỏ quy định cấm thành lập, quản lý doanh nghiệp đối với người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Điểm e Khoản 2 Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2014. Đề xuất phương án thay thế: chỉ áp dụng biện pháp tạm hoãn hoặc kéo dài thời hạn xem xét hồ sơ đăng ký trong một khoảng thời gian ngắn để cơ quan chức năng xác minh, tránh việc tước bỏ quyền kinh doanh khi chưa có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật.
- Bãi bỏ quy định buộc người dân phải tự đi xin và nộp Phiếu lý lịch tư pháp cho cơ quan đăng ký kinh doanh. Đề xuất xây dựng cơ chế chia sẻ, kết nối thông tin điện tử trực tiếp giữa Cơ quan đăng ký kinh doanh và Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, tương tự như mô hình kết nối liên thông thành công giữa Cơ quan đăng ký kinh doanh và Cơ quan Thuế. Mọi chi phí xác minh có thể tính vào lệ phí đăng ký.
- Ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết, rõ ràng về việc áp mã ngành kinh tế khi đăng ký kinh doanh, giải quyết tình trạng lúng túng, tranh cãi giữa doanh nghiệp và chuyên viên thụ lý hồ sơ.
- Bãi bỏ quy định thời gian chờ 03 ngày sau khi thông báo mẫu con dấu trên Cổng thông tin quốc gia; cho phép doanh nghiệp được sử dụng con dấu ngay sau khi hoàn thành thao tác gửi thông báo trực tuyến.
- Thiết lập mô hình "một cửa liên thông" tích hợp đầy đủ các thủ tục đăng ký kinh doanh, khắc con dấu, mở tài khoản ngân hàng và đăng ký thuế, học hỏi kinh nghiệm cải cách thủ tục hành chính triệt để của các quốc gia đang phát triển.
- Ba nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật:
- Nâng cao ý thức pháp luật và xây dựng thói quen "sống và làm việc theo pháp luật" của cả người dân và đội ngũ cán bộ, công chức xử lý hồ sơ hành chính; xóa bỏ hiện tượng cửa quyền, sách nhiễu.
- Đẩy mạnh vai trò tuyên truyền của các phương tiện thông tin đại chúng. Tác giả nêu rõ cần tận dụng hệ thống truyền thông rộng khắp của đất nước (gồm 553 cơ quan báo chí cùng hàng trăm đài phát thanh, truyền hình) để phổ biến chính sách, thủ tục thành lập doanh nghiệp, mở các chuyên mục chuyên sâu hướng dẫn biểu mẫu và quy trình pháp lý.
- Tăng cường trách nhiệm và sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng: Quốc hội kịp thời hoàn thiện các văn bản dưới luật; cơ quan công an, tòa án, viện kiểm sát, thanh tra đẩy mạnh kiểm tra, giám sát công vụ, xử lý nghiêm minh các sai phạm hành chính nhằm tạo môi trường minh bạch cho doanh nghiệp.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu đạt được:
- Hệ thống hóa toàn diện các quy định của Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Đầu tư 2014 và Nghị định số 78/2015/NĐ-CP điều chỉnh thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp.
- Cung cấp số liệu chính thức từ Tổng cục Thống kê chứng minh sự tăng trưởng vượt bậc của doanh nghiệp trong năm 2015: 94.754 doanh nghiệp thành lập mới (tăng 26,6%), tổng vốn đăng ký 601,5 nghìn tỷ đồng (tăng 39,1%), vốn bình quân 6,3 tỷ đồng/doanh nghiệp (tăng 9,9%), giải quyết 1.471,9 nghìn lao động (tăng 34,9%).
- Nhận diện chính xác các điểm mới kỹ thuật lập pháp của Luật Doanh nghiệp 2014: Rút gọn Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp xuống 04 nội dung chính, giảm thời gian giải quyết hồ sơ từ 5 ngày xuống 3 ngày làm việc, bổ sung Chương IV về Doanh nghiệp nhà nước (22 điều), bãi bỏ thủ tục cấp giấy chứng nhận mẫu dấu của công an.
- Phát hiện các điểm nghẽn thực tiễn tại Công ty Cổ phần 19/9: tình trạng người nộp hồ sơ phải đi lại 03 lần và chờ kết quả 03 lần, ách tắc trong tra cứu áp mã ngành, thời hạn chờ sử dụng con dấu 03 ngày không cần thiết, và gánh nặng từ thủ tục xin cấp Phiếu lý lịch tư pháp.
Đóng góp so với các công trình nghiên cứu trước:
- Tính cập nhật về thời điểm pháp lý: Trong khi phần lớn các công trình nghiên cứu trước đó (như luận văn của Nguyễn Văn Hùng năm 2010, Nguyễn Thị Phương Thảo năm 2010, Nguyễn Thị Thu Hà năm 2013, Trần Tố Uyên năm 2005) chỉ phân tích trong khuôn khổ Luật Doanh nghiệp 2005, khóa luận này là một trong những công trình nghiên cứu trực tiếp các quy định mới của Luật Doanh nghiệp 2014 sau gần 3 năm vận hành thực tế.
- Tính thực chứng từ cơ sở: Luận điểm được kiểm chứng qua hoạt động đại diện dịch vụ pháp lý tại Công ty Cổ phần 19/9, phản ánh chân thực góc nhìn của đơn vị trung gian thực hiện thủ tục thay vì chỉ phân tích lý thuyết thuần túy.
- Giá trị phản biện khoa học: Tác giả lập luận sắc bén dựa trên Hiến pháp 2013 để chứng minh quy định cấm người bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Điểm e Khoản 2 Điều 18 là bước thụt lùi so với Luật Doanh nghiệp 2005, đồng thời đề xuất giải pháp kỹ thuật kết nối dữ liệu liên ngành để thay thế việc nộp Phiếu lý lịch tư pháp giấy.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Phạm vi khảo sát thực tế mới dừng lại ở một đơn vị cung cấp dịch vụ pháp lý duy nhất là Công ty Cổ phần 19/9 trên một địa bàn nhất định, chưa có sự đối chiếu so sánh quy mô lớn với các phòng đăng ký kinh doanh tại các tỉnh/thành phố khác trên cả nước.
- Dữ liệu thực tiễn được phân tích trong giai đoạn đầu thi hành Luật Doanh nghiệp 2014 (thời điểm các văn bản hướng dẫn dưới luật như Nghị định 78/2015/NĐ-CP mới triển khai), do đó chưa bao quát hết những biến động phát sinh khi hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia được nâng cấp ở các giai đoạn sau.
Hướng nghiên cứu tiếp theo mà tác giả đặt ra:
- Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đăng ký thành lập doanh nghiệp gắn liền với thẩm quyền, trách nhiệm công vụ của cơ quan đăng ký kinh doanh, khắc phục tình trạng chồng chéo giữa Luật Doanh nghiệp và các văn bản luật chuyên ngành.
- Mở rộng nghiên cứu thực tiễn thi hành Luật Doanh nghiệp 2014 trên diện rộng nhằm theo dõi những bất cập nảy sinh khi các quy định mới vận hành lâu dài, từ đó cung cấp căn cứ thực chứng cho việc sửa đổi, bổ sung luật trong tương lai.
- Nghiên cứu mô hình hoàn thiện cơ chế kết nối thông tin dữ liệu điện tử giữa cơ quan quản lý đăng ký kinh doanh với cơ quan tư pháp và các bộ, ngành liên quan để xóa bỏ hoàn toàn các thủ tục hành chính trung gian.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:
- Sinh viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Thương mại, Quản trị kinh doanh tại các trường đại học khối kinh tế - luật khi tìm hiểu về thủ tục gia nhập thị trường và pháp luật doanh nghiệp.
- Học viên, người làm nghiên cứu học thuật thực hiện các đề tài về cải cách thủ tục hành chính, đăng ký kinh doanh, và quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp.
- Chuyên viên tư vấn pháp lý, luật sư và các cá nhân chuẩn bị thành lập doanh nghiệp cần nắm bắt quy trình lập hồ sơ, biểu mẫu và các quy định pháp luật liên quan.
Các phần có giá trị tham khảo cao nhất trong văn bản:
- Bảng tổng hợp và phân tích sự thay đổi giữa Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật Doanh nghiệp 2014 (nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cơ chế tự quyết con dấu, điều kiện chủ thể).
- Phần phân tích phản biện về tính bất hợp lý của quy định cấm người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự thành lập doanh nghiệp dưới góc độ quyền con người và nguyên tắc suy đoán vô tội trong Hiến pháp 2013.
- Các đề xuất kỹ thuật về quy trình liên thông một cửa và chia sẻ dữ liệu điện tử giữa cơ quan đăng ký kinh doanh với cơ quan cấp lý lịch tư pháp.
Câu hỏi thường gặp
-
Theo Luật Doanh nghiệp 2014, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được tinh giản còn bao nhiêu nội dung chính so với Luật Doanh nghiệp 2005?
Theo Khoản 1 Điều 29 Luật Doanh nghiệp 2014, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được rút gọn chỉ còn 04 nội dung chính (so với 10 nội dung bắt buộc của Luật Doanh nghiệp 2005), bao gồm: (1) Tên doanh nghiệp và mã số doanh nghiệp; (2) Địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp; (3) Thông tin người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp; (4) Vốn điều lệ doanh nghiệp. Thông tin về ngành, nghề kinh doanh đã được đưa ra khỏi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
-
Tại sao tác giả khóa luận cho rằng việc cấm người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự thành lập doanh nghiệp là một bước lùi?
Tác giả chỉ ra rằng Luật Doanh nghiệp 1999 từng cấm đối tượng này, nhưng Luật Doanh nghiệp 2005 đã bãi bỏ để chỉ cấm người đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị Tòa án cấm hành nghề. Việc Luật Doanh nghiệp 2014 quy định lại việc cấm này tại Điểm e Khoản 2 Điều 18 không phù hợp với Khoản 1 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định nguyên tắc suy đoán vô tội: người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Tác giả kiến nghị thay vì cấm tuyệt đối, chỉ nên áp dụng biện pháp tạm hoãn hoặc kéo dài thời hạn xem xét hồ sơ để xác minh.
-
Những trở ngại cụ thể nào về thủ tục hành chính đã được chỉ ra qua thực tiễn tại Công ty Cổ phần 19/9?
Thực tiễn tại Công ty Cổ phần 19/9 cho thấy doanh nghiệp/người đại diện phải nộp hồ sơ 03 lần và chờ kết quả 03 lần cho các bước thủ tục; gặp lúng túng khi cập nhật Điều lệ theo Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 và tra cứu mã ngành nghề; phải chờ đợi 03 ngày sau khi thông báo mẫu dấu trên Cổng thông tin quốc gia mới được đưa con dấu vào sử dụng; và chịu thêm gánh nặng thời gian, chi phí khi bị yêu cầu tự đi xin cấp và nộp Phiếu lý lịch tư pháp.
-
Tình hình phát triển doanh nghiệp thành lập mới năm 2015 của Việt Nam đạt những con số nào theo dữ liệu trong khóa luận?
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê được khóa luận trích dẫn, năm 2015 cả nước có 94.754 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký đạt 601,5 nghìn tỷ đồng, tăng 26,6% về số lượng doanh nghiệp và tăng 39,1% về số vốn đăng ký so với năm 2014. Vốn đăng ký bình quân đạt 6,3 tỷ đồng/doanh nghiệp (tăng 9,9%) và dự kiến tạo việc làm cho 1.471,9 nghìn lao động (tăng 34,9% so với năm 2014).
-
Tác giả đề xuất giải pháp kỹ thuật nào nhằm thay thế thủ tục nộp Phiếu lý lịch tư pháp của người đăng ký doanh nghiệp?
Tác giả đề xuất thiết lập hệ thống kết nối, tra cứu và trao đổi thông tin điện tử trực tiếp giữa Cơ quan đăng ký kinh doanh và Cơ quan cấp Phiếu lý lịch tư pháp (tương tự cơ chế liên thông giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế). Khi cần xác minh, cơ quan đăng ký kinh doanh sẽ chủ động yêu cầu cơ quan tư pháp chuyển dữ liệu sang, chi phí xác minh được kết hợp vào lệ phí đăng ký, chấm dứt tình trạng bắt người dân phải tự đi lại xin cấp phiếu rồi mang nộp lại.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả tại Trường Đại học Thương mại đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và các quy định pháp luật điều chỉnh thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp 2014 và Nghị định số 78/2015/NĐ-CP. Thông qua khảo sát thực tiễn tại Công ty Cổ phần 19/9, công trình đã chỉ rõ những chuyển biến tích cực trong việc rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ và trao quyền tự chủ con dấu, đồng thời phản biện thẳng thắn các rào cản về việc nộp Phiếu lý lịch tư pháp, quy định chờ sử dụng dấu và điều kiện cấm chủ thể đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Các kiến nghị về mô hình một cửa liên thông toàn diện và chia sẻ dữ liệu điện tử liên ngành mà đề tài đưa ra có tính thực tiễn cao, đóng góp thiết thực vào tiến trình hoàn thiện khung pháp lý và cải cách thủ tục hành chính công tại Việt Nam.