Chương 1 hệ thống lại những lý luận cơ bản về phương thức tín dụng chứng từ, về nguyên tắc ‘Xuất trình chứng từ hoàn toàn hợp lệ’, cách thức vận dụng và những ảnh hưởng của nguyên tắc đến các bên liên quan trong giao dịch tín dụng chứng từ. Những lý luận cơ bản về phương thức tín dụng chứng từ 1. Những khái niệm cơ bản về phương thức tín dụng chứng từ Thư tín dụng (TTD) đã được sử dụng rất lâu đời, bắt đầu manh nha xuất hiện từ thời Hy Lạp cổ đại và thời Babylon (Collyer, 2015). Tuy nhiên, cho tới thế kỷ thứ 18 – 19 thì thuật ngữ thư tín dụng mới được sử dụng rộng rãi.
Theo thống kê của Phòng thương mại công nghiệp ICC (2015), khu vực Châu Á – Thái Bình Dương chiếm 70% lượng thư tín dụng nhập khẩu, 76% thư tín dụng xuất khẩu so với toàn thế giới. Thuật ngữ thư tín dụng (Letter of credit) hay còn được gọi tín dụng chứng từ (Documentary credit) được xuất phát từ một thuật ngữ tiếng Pháp ‘accréditif’, được hiểu là lời hứa để thực hiện, cũng được xuất phát từ từ Latinh ‘accreditivius’ có nghĩa là sự tin tưởng (Robert Bulger, ‘Letter of credit: A Question of honor’ (1983- 1984), được trích dẫn bởi Gracia (2009)). Thuật ngữ tín dụng ở đây không phải để chỉ một khoản cho vay thông thường mà chỉ sự tín nhiệm (Nguyễn Văn Tiến, 2014). Tại điều 16 Quy chế 226 ban hành kèm Quyết định 226/2002/QĐ-NHNN ngày 26/03/2002 định nghĩa: ‘Thư tín dụng là một văn bản cam kết có điều kiện được ngân hàng mở theo yêu cầu của người sử dụng dịch vụ thanh toán (người yêu cầu mở TTD), theo đó ngân hàng thực hiện yêu cầu của người sử dụng dịch vụ thanh toán’.
Tại điều 2 UCP600, tín dụng chứng từ (TDCT) được định nghĩa là một thoả thuận bất kỳ, cho dù được gọi tên hoặc mô tả thế nào, thể hiện một cam kết chắc chắn và không huỷ ngang của ngân hàng phát hành (NHPH) về việc thanh toán khi xuất 2 trình bộ chứng từ phù hợp. Sự xuất trình phù hợp bao gồm: (i) phù hợp với các điều kiện, điều khoản của TTD, (ii) phù hợp với các điều khoản của UCP được dẫn chiếu trong TTD, (iii) phù hợp với thông lệ và tập quán quốc tế về giao dịch TDCT. Trong phương thức TDCT, quyết định trả tiền sẽ được căn cứ dựa trên các chứng từ được quy định trong TTD mà không cần nhìn thấy hay không cần thẩm định hay định giá hàng hoá. Như vậy, diễn đạt một cách đơn giản hơn, TDCT là một phương thức thanh toán liên quan đến việc xuất trình bộ chứng từ hợp lệ; Là một sự thoả thuận mà trong đó, một ngân hàng phát hành TTD dựa trên yêu cầu của khách hàng (Người yêu cầu mở TTD), ngân hàng đó cam kết hoặc cho phép ngân hàng khác thanh toán giá trị của TTD cho người hưởng lợi khi những chứng từ xuất trình phù hợp hoàn toàn với những điều kiện và điều khoản quy định trong TTD.
Do có tính tuỳ ý về cách gọi nên trong thực tế có rất nhiều thuật ngữ khác nhau được dùng để chỉ phương thức thanh toán TDCT bằng tiếng Anh và tiếng Việt như: Documentary credit (Tín dụng chứng từ), Letter of credit (Thư tín dụng hay tín dụng thư), DC (viết tắt của documentary credit), LC (viết tắt của letter of credit). Cho dù cách gọi là gì thì bản chất của nó vẫn phải tuân thủ nội dung điều 2 của UCP600. So với các phương thức thanh toán quốc tế khác, phương thức TDCT dung hoà được lợi ích và rủi ro giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu: Nhà xuất khẩu sẽ nhận được tiền hàng nếu xuất trình được bộ chứng từ phù hợp; còn NHPH sẽ chỉ trả tiền khi nhà xuất khẩu chuẩn bị đầy đủ và đúng bộ chứng từ mà nhà nhập khẩu yêu cầu trong TTD. Một giao dịch TDCT bao gồm một số bên liên quan cơ bản sau đây: Người yêu cầu mở TTD (Applicant): thông thường là nhà nhập khẩu, là người yêu cầu ngân hàng phục vụ mình phát hành một TTD (Điều 2, UCP600) và có trách nhiệm pháp lý về việc NHPH trả tiền cho người thụ hưởng TTD.
Người thụ hưởng TTD (Beneficiary): thông thường là nhà xuất khẩu, là bên được hưởng lợi TTD được phát hành (Điều 2, UCP600). Trách nhiệm của người hưởng 3 lợi TTD là giao hàng và hoàn thiện bộ chứng từ để xuất trình tới ngân hàng phục vụ mình. Khả năng thanh toán phụ thuộc vào tình trạng của bộ chứng từ xuất trình. Ngân hàng phát hành TTD (The issuing bank) hay còn gọi là ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu: là ngân hàng thực hiện phát hành TTD theo yêu cầu của người yêu cầu mở TTD (Điều 2, UCP600).
NHPH thường được hai bên mua bán thoả thuận trước và quy định trong hợp đồng. Trách nhiệm của NHPH được quy định tại điều 7 UCP600. Ngân hàng thông báo TTD (The advising bank): là ngân hàng phục vụ người xuất khẩu, là ngân hàng thực hiện thông báo TTD cho người thụ hưởng theo yêu cầu của NHPH (Điều 2, UCP600). Ngân hàng này thường ở nước xuất khẩu và thường là đại lý của ngân hàng phát hành TTD.
Trách nhiệm của ngân hàng thông báo là xác minh tính chân thật bề ngoài của TTD và thông báo không chậm trễ tới người thụ hưởng TTD (Điều 9, UCP600). Ngoài ra còn một số bên tham gia khác như ngân hàng bồi hoàn, ngân hàng thương lượng, ngân hàng xác nhận. Nhưng trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ giới thiệu các đối tượng tham gia trên. Quy trình nghiệp vụ của phương thức TDCT được trình bày tại phụ lục số 1.
Các nguồn luật điều chỉnh giao dịch tín dụng chứng từ Do tính chất quốc tế của nghiệp vụ thanh toán mà giao dịch chứng từ phải tuân thủ các nguồn luật và công ước quốc tế, đồng thời cũng chịu sự chi phối của luật pháp quốc gia, cụ thể: Về các nguồn luật và công ước quốc tế: Luật hối phiếu và lệnh phiếu thống nhất (ULB) được thành lập theo Công ước Geneva năm 1930, Công ước Geneva 1931 về Séc – ULC 1931, Công ước Liên hiệp quốc về Hối phiếu và Kỳ phiếu quốc tế1988, Công ước Liên hiệp quốc về Bảo lãnh độc lập và TTD dự phòng 1995. Về nguồn luật quốc gia: Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội, luật Thương mại số 36/2005/QH11 của Quốc hội, pháp lệnh ngoại hối số 28/2005/PL- 4 UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 13/12/2005 và Pháp lệnh số 06/2013/PL-UBTVQH13 ngày 18 tháng 3 năm 2013 sửa đổi, bổ sung một số Điều của Pháp lệnh Ngoại hối, luật Các công cụ chuyển nhượng số 49/2005QH11 của Quốc hội, nghị định số 219/2013/NĐ-CP ngày 26 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ về quản lý vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp không được Chính phủ bảo lãnh, thông tư số 05/2016/TT-NHNN hướng dẫn một số nội dung về quản lý ngoại hối đối với việc vay trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp (có liên quan đến TTD trả chậm), Quy chế hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán kèm theo Quyết định số 226/2002/QĐ-NHNN ngày 23/6/2002 (gọi là Quy chế 226), thông tư 15/2015/TT-NHNN về giao dịch ngoại tệ (liên quan đến quy định yêu cầu ký quỹ bằng đồng nội tệ khi mở TTD). Về các thông lệ và tập quán quốc tế: Quy tắc và thực hành thống nhất về TDCT – UCP, tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế trong kiểm tra chứng từ theo TDCT – ISBP, bản phụ trương UCP về xuất trình chứng từ điện tử – eUCP, quy tắc thống nhất về hoàn trả liên hàng theo TDCT - URR. Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (The Uniform customs and practice for documentary credit – UCP) là một tập hợp các nguyên tắc và tập quán quốc tế được ICC soạn thảo và phát hành năm 1993, quy định quyền hạn, trách nhiệm của các bên liên quan trong giao dịch TDCT với điều kiện TTD có dẫn chiếu tuân thủ UCP (ICC, 2007).
Xuất phát từ thực tế mỗi quốc gia có hệ thống pháp luật, tập quán riêng và thể chế chính trị khác nhau, nên đã cản trở hoạt động các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, trong đó có giao dịch bằng TTD. Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra là cần có một quy tắc chung để điều chỉnh phương thức thanh toán bằng TTD nhằm giảm thiểu các tranh chấp, tăng tính hiệu quả của phương thức này. Nội dung của các quy tắc chung này bao gồm việc định nghĩa, đơn giản hoá và tập hợp các tập quán, kỹ thuật nghiệp vụ áp dụng trong giao dịch TDCT. Ngay từ khi ra đời, UCP đã được chấp nhận và áp 5 dụng rộng rãi trên thế giới, trở thành cơ sở cho thanh toán TTD trong thương mại quốc tế.
Trước sự thay đổi và phát triển không ngừng của thương mại quốc tế thì việc sửa đổi UCP để phù hợp với thực tiễn là cần thiết. Do đó, kể từ khi ra đời, UCP đã trải qua các lần sửa đổi 6 lần thông qua các ấn bản: 1933, 1951, 1962 (UCP 222), 1974 (UCP 290), 1983 (UCP 400), 1993 (UCP 500), 2007 (UCP 600). UCP là văn bản do tổ chức phi chính phủ phát hành nên UCP không mang tính chất pháp lý bắt buộc đối với các hội viên cũng như các bên liên quan. Theo Nguyễn Văn Tiến (2014), tính chất pháp lý tuỳ ý thể hiện ở các điểm: (i) Tất cả các phiên bản UCP đều còn nguyên giá trị, phiên bản sau không phủ nhận phiên bản trước.
Do đó, khi dẫn chiếu UCP phải chỉ rõ là áp dụng UCP phiên bản nào; (ii) Chỉ khi trong TTD có dẫn chiếu áp dụng UCP, thì UCP mới trở nên có hiệu lực pháp lý bắt buộc điều chỉnh các bên tham gia; (iii) Các bên có thể thoả thuận trong TTD: Không thực hiện, hoặc thực hiện khác đi một hoặc một số điều khoản quy định trong UCP. Bổ sung những điều khoản vào TTD mà UCP không đề cập; (iv) Nếu nội dung UCP có xung đột với luật quốc gia, thì luật quốc gia vượt lên trên về mặt pháp lý. Điều này hàm ý, phán quyết của toà án địa phương có thể phủ nhận nội dung giao dịch bằng TTD; (v) Trong giao dịch TTD, các bên trước hết phải tuân thủ các điều khoản của TTD, sau đó mới đến các điều khoản của UCP áp dụng. Theo tính chất pháp lý giảm dần, có thứ tự các nguồn luật sau: Công ước quốc tế - Hiệp định song phương và đa phương - Luật quốc gia - Thông lệ và tập quán quốc tế.