Chương 1: Cơ sở lý luận về xếp hạng tín dụng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp của các chi nhánh Agribank tại tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp của các chi nhánh Agribank trên địa bàn tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. 123doc 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Tín dụng và rủi ro tín dụng tại ngân hàng thƣơng mại 1. Những vấn đề chung về hoạt động tín dụng tại ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm tín dụng Tín dụng là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn tài chính cho đối tượng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm theo lãi suất. Do hoạt động này làm phát sinh một khoản nợ nên bên cho vay còn gọi là chủ nợ, bên đi vay gọi là con nợ.
Do đó, tín dụng phản ánh mối quan hệ giữa hai bên - Một bên là người cho vay, và một bên là người đi vay. Quan hệ giữa hai bên ràng buộc bởi cơ chế tín dụng, thỏa thuận thời gian cho vay, lãi suất phải trả, … Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh và các nghiệp vụ khác. Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng phát sinh giữa các ngân hàng, các tổ chức tín dụng với các đối tác kinh tế - tài chính của toàn xã hội, bao gồm doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội, cơ quan nhà nước. Phân loại tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng có thể chia thành nhiều loại khác nhau, tùy theo những tiêu chí cơ bản như sau: Căn cứ vào mục đích của tín dụng - Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp.
- Cho vay tiêu dùng cá nhân. - Cho vay bất động sản. - Cho vay nông nghiệp. - Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu.
123doc 5 Căn cứ vào thời hạn tín dụng - Cho vay ngắn hạn: thời hạn cho vay đến 12 tháng. - Cho vay trung hạn: thời hạn cho vay trên 12 đến 60 tháng. - Cho vay dài hạn: thời hạn cho vay trên 60 tháng. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng - Cho vay có bảo đảm bằng tài sản.
- Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản (cho vay tín chấp). Căn cứ vào phƣơng thức hoàn trả nợ - Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả nợ một lần khi đến hạn. - Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả góp, là phương thức cho vay mà theo đó các kỳ hạn trả nợ gốc và lãi vay trùng nhau, số tiền trả nợ mỗi kỳ bằng nhau, số tiền lãi tính theo số dư nợ gốc và số ngày thực tế của kỳ hạn trả nợ. - Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn cụ thể mà tùy khả năng tài chính của người đi vay, có thể trả nợ bất cứ lúc nào.
Căn cứ vào phƣơng thức cho vay - Cho vay theo món (cho vay từng lần). - Cho vay theo hạn mức tín dụng. Ngoài các loại tín dụng nêu trên, ngân hàng thương mại còn thực hiện các nghiệp vụ mang tính chất tín dụng khác như: Bảo lãnh, tài trợ thương mại, cho thuê tài chính, … 1. Vai trò của hoạt động tín dụng ngân hàng - Đối với nền kinh tế - xã hội: Tín dụng ngân hàng là kênh luân chuyển vốn hiệu quả, đáp ứng nhu cầu đầu tư và phát triển kinh tế, góp phần điều tiết vĩ mô nền kinh tế, tiết kiệm chi phí lưu thông xã hội và thực hiện các chính sách xã hội.
- Đối với ngân hàng thương mại: Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động sinh lợi chủ yếu của ngân hàng. Rủi ro tín dụng tại ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Nói cách khác, rủi ro tín dụng là khả năng không chi trả được nợ của người đi vay đối với người cho vay khi đến hạn phải thanh toán.
Luôn là người cho vay phải chịu rủi ro khi chấp nhận một hợp đồng cho vay tín dụng. Bất kỳ một hợp đồng cho vay nào cũng có rủi ro tín dụng. Rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác của ngân hàng thương mại như: hoạt động bảo lãnh, tài trợ thương mại, cho thuê tài chính, … 1. Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng Có nhiều nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng nhưng có thể tổng kết các nguyên nhân cơ bản như sau: - Nguyên nhân bất khả kháng: là những nguyên nhân khách quan, không thể tránh khỏi hoặc vượt quá khả năng kiểm soát của đối tượng được cấp tín dụng (như thiên tai, chiến tranh, …) và là những nguyên nhân không thường xuyên xảy ra nhưng khi xảy ra lại tác động nặng nề tới đối tượng được cấp tín dụng, làm suy giảm khả năng trả nợ cho ngân hàng.
- Nguyên nhân từ phía đối tượng được cấp tín dụng: là những nguyên nhân liên quan đến chính bản thân của đối tượng được cấp tín dụng như đạo đức (cố tình lừa đảo, cố tình chây ỳ, không trả nợ đúng thời hạn, …), trình độ yếu kém trong kinh doanh và quản lý, sử dụng vốn sai mục đích, … Đây là nhóm nguyên nhân phổ biến nhất gây ra rủi ro tín dụng cho ngân hàng. Nguyên nhân từ phía ngân hàng: là những nguyên nhân liên quan đến trình độ và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ ngân hàng, chính sách quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng, … Nhóm nguyên nhân này thường kết hợp với nhóm nguyên nhân chủ quan từ phía đối tượng được cấp tín dụng gây ra thiệt hại cho ngân hàng. Hậu quả khi xảy ra rủi ro tín dụng Tại Việt Nam hiện nay, tín dụng vẫn là hoạt động cơ bản, quan trọng nhất của hầu hết các ngân hàng thương mại, chiếm phần lớn trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng cả về doanh thu và lợi nhuận. Do đó, rủi ro trong lĩnh vực này cũng tỷ lệ thuận với tầm quan trọng của nó và chiếm phần lớn trong tổng mức rủi ro của hoạt động ngân hàng.
Rủi ro tín dụng xảy ra trước hết làm cho ngân hàng phát sinh thêm nợ xấu, ngân hàng khó có khả năng tăng trưởng tín dụng và nếu mức độ rủi ro cao sẽ kéo theo rủi ro thanh khoản, làm cho hoạt động của ngân hàng trở nên bị động, không tự chủ được về tài chính, gây ra tâm lý hoang mang cho người gửi tiền dẫn đến việc rút tiền hàng loạt, đẩy ngân hàng lâm vào nguy cơ phá sản, từ đó có thể gây ra sự sụp đổ dây chuyền trong hệ thống ngân hàng, kênh phân phối vốn huyết mạch của nền kinh tế quốc gia. Rủi ro tín dụng của ngân hàng cũng có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế của các nước liên quan do hội nhập kinh tế đã gắn chặt mối liên hệ về tiền tệ, đầu tư giữa các quốc gia. Như vậy, có thể thấy tính chất “lan truyền” của rủi ro tín dụng là rất nguy hiểm. Xếp hạng tín dụng tại ngân hàng thƣơng mại 1.
Một số vấn đề về xếp hạng tín dụng 1. Khái niệm về xếp hạng tín dụng Xếp hạng tín dụng - “Credit Ratings” là thuật ngữ do John Moody đưa ra năm 1909 trong cuốn “Cẩm nang chứng khoán đường sắt”, khi tiến hành nghiên cứu, phân tích và công bố bảng xếp hạng đầu tiên cho 1500 trái phiếu của 250 công ty theo một hệ thống ký hiệu gồm 3 chữ cái A, B, C được xếp lần lượt từ (AAA) đến (C). Hiện nay, những ký hiệu này trở thành chuẩn mực quốc tế. Ở Việt Nam, thuật ngữ “credit rating” được dịch với nhiều nghĩa khác nhau như xếp hạng tín nhiệm, xếp hạng tín dụng, định mức tín dụng, định mức tín nhiệm, đánh giá tín nhiệm,.
Trong luận văn này, tác giả sử dụng thuật ngữ xếp hạng tín dụng (XHTD) vì nó phù hợp hơn khi đứng ở khía cạnh ngân hàng. Cho đến nay, có nhiều khái niệm về xếp 123doc 8 hạng tín dụng. Tuỳ theo góc độ nghiên cứu mà chúng ta có thể xác định nội dung của thuật ngữ này: - Theo Moody’s, XHTD là những ý kiến đánh giá về chất lượng tín dụng và khả năng thanh toán nợ của một nghĩa vụ nợ riêng lẻ hoặc của chủ thể phát hành dựa trên các kết quả phân tích tín dụng cơ bản và thể hiện thông qua hệ thống ký hiệu từ Aaa đến C. - Theo Standards & Poor’s, XHTD là những ý kiến đánh giá về rủi ro tín dụng, khả năng và sự sẵn sàng thanh toán các nghĩa vụ tài chính một cách đầy đủ và đúng hạn của một chủ thể phát hành (chủ thể được cấp tín dụng), như một doanh nghiệp, một Chính phủ hoặc một Ủy ban nhân dân.
XHTD cũng đề cập đến chất lượng tín dụng của một khoản nợ riêng lẻ, như một trái phiếu doanh nghiệp hoặc một trái phiếu của chính quyền địa phương, và xác suất tương đối mà khoản phát hành đó có thể vỡ nợ. - Theo định nghĩa của công ty chứng khoán Merrill Lynch, XHTD là đánh giá hiện thời của công ty XHTD về chất lượng tín dụng của một nhà phát hành chứng khoán nợ, về một khoản nợ nhất định. Nói khác đi, đó là cách đánh giá hiện thời về chất lượng tín dụng được xem xét trong hoàn cảnh hướng về tương lai, phản ánh sự sẵn sàng và khả năng nhà phát hành có thể thanh toán gốc và lãi đúng hạn. Trong kết quả XHTD chứa đựng ý kiến chủ quan của chuyên gia XHTD.
- Theo Viện nghiên cứu Nomura (Toky - Nhật Bản), XHTD là đánh giá hiện tại về mức độ sẵn sàng và khả năng trả gốc hoặc lãi đối với chứng khoán nợ của một nhà phát hành trong suốt thời gian tồn tại của chứng khoán đó.