Chương 1. Giới thiệu nghiên cứu 123doc 7 Chương 2. Tổng quan lý thuyết và nghiên cứu trước đây về khả năng tiếp cận tín dụng Chương 3. Phương pháp nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của hộ kinh doanh Chương 4.
Thảo luận kết quả nghiên cứu Chương 5. Kết luận và các giải pháp 123doc 8 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN TÍN DỤNG 2. Cơ sở lý thuyết Trong phần này đề tài trình bày hai lý thuyết giải thíchkhả năng tiếp cận vốn của các hộ kinh doanh cũng như mức độ vay nợ của các hộ kinh doanh: (1) Lý thuyết vòng đời sống và (2) Sự lựa chọn đối nghịch.
Lý thuyết vòng đời sống Điểm xuất phát trong việc phân tích nhu cầu tín dụng của các hộ gia đình và các yếu tố tác động đến nhu cầu này chính là mô hình vòng đời sống (Life cycle model) (Franco Modigliani, 1966). Ở các quốc gia đang phát triển, các cá nhân không thể duy trì tiêu dùng ở một mức nhất định. Có thể thấy rằng với sự thay đổi quy mô gia đình trong tương lai cũng như các cú sốc có thể xảy ra trong tương lai, một hộ gia đình có thể sẽ có các mức tiêu dùng khác nhau ở các thời gian khác nhau. Cho nên lý thuyết vòng đời sống đã lập luận rằng người tiêu dùng nên phân bổ lại thu nhập của họ theo thời gian để có thể tối đa hóa tiện ích cuộc sống của họ trong cả cuộc đời (Morduch, 1995) do hạn chế về ngân sách.
Người tiêu dùng có thể làm trơn (Smooth) mức tiêu dùng của họ bằng cách tiết kiệm các thu nhập trong quá khứ hoặc đầu tư nhưng không thể sử dụng các khoản thu nhập trong tương lai vì nó không có thực. Do đó, người tiêu dùng có thể làm trơn tiêu dùng và/hoặc gia tăng mức tiện ích bằng cách tiếp cận với các nguồn vốn (vay vốn ngân hàng). Khi đó để có thể tối đa hóa tiện ích, các cá nhân sẽ có khuynh hướng đi vay tín dụng tại các ngân hàng. Tín dụng có thể giúp các cá nhân đưa ra lựa chọn liên thời gian (Inter-temporal choice) và có thể giúp các cá nhân gia tăng khả năng tiêu dùng trong hiện tại và phải chấp nhận việc hoàn trả nợ vay (bao gồm cả tiền vay và tiền lãi) trong tương lai (Soman và Cheema, 2002).
123doc 9 Modigliani (1986) cũng thảo luận về mô hình liên thời gian của giả thuyết vòng đời sống và giả thuyết thu nhập thường xuyên. Tác giả đã lập luận các mô hình này giải thích hành vi tiêu dùng của hộ gia đình. Nhưng mô hình này giả định rằng các hộ gia đình đều có các cơ hội như nhau (thị trường hoàn hảo) để vay tín dụng. Theo Chen và Chiivakul (2008), trong mô hình vòng đời sống, các hộ gia đình có thu nhập trong suốt cuộc đời của họ và các hộ gia đình phải đối mặt với vấn đề tối đa hóa tiện ích của họ bằng cách lựa chọn mức tiêu dùng và tiết kiệm tối ưu nhất có thể.
Hơn thế nữa, trong mô hình này, mức tiêu dùng hiện tại sẽ phụ thuộc vào đặc điểm đời sống của các hộ gia đình nhưng không phụ thuộc vào thu nhập hiện tại. Mặt khác, giả thuyết thu nhập thường xuyên cho rằng mức tiêu dùng hiện tại của người tiêu dùng phụ thuộc vào tiêu dùng dự kiến trong tương lai (đầu tiên người tiêu dùng sẽ ước lượng khả năng tiêu dùng của họ trong thời gian dài và từ đó thiết lập mức tiêu dùng hiện tại để phù hợp với ước lượng đó), trong đó mức tiêu dùng dự kiến này phụ thuộc vào các đặc điểm cá nhân của người tiêu dùng (Hall, 1978). Nhu cầu tín dụng cũng được mô tả từ lý thuyết đầu tư. Các công ty sẽ tối đa hóa tiện ích theo hàm sản xuất.
Các công ty cần có sản lượng, lực lượng lao động, và vốn. Mặc dù các công ty biết rằng có cơ hội đầu tư sinh lời, nhưng họ không thể thực hiện điều này vì họ cảm thấy rằng việc tiết kiệm để có đủ vốn đầu tư dường như rất khó khăn (Jorgenson, 1967). Theo đó, các công ty sẽ tiến hành tiếp cận với các khoản vay từ ngân hàng để có đủ vốn đầu tư các dự án mà họ đang theo đuổi. Tuy nhiên, các công ty chỉ tiến hành thực hiện đầu tư khi mà tỷ suất sinh lợi dự kiến vượt trội hơn chi phí vốn mà công ty sử dụng (lãi suất cho vay) (Modigliani và Miller, 1958).
Các nhà nghiên cứu khác cũng đưa ra giả thuyết đối với nhu cầu tín dụng với hàm sản xuất của một công ty. Trong khuôn khổ lý thuyết hàm sản xuất Cobb Douglas, các công ty cần tối đa hóa lợi nhuận từ việc sản xuất. Theo lý thuyết này, quá trình sản xuất phụ thuộc chủ yếu vào lực lượng lao động và vốn (Zellner và các cộng sự, 1966). Cobb Douglas đã nghiên cứu cách mà hàm sản xuất bị tác động bởi hai yếu tố quan trọng, vốn 123doc 10 và lực lượng lao động, và cách mà hai yếu tố này làm thay đổi thu nhập của công ty (Felipe và Adams, 2005).
Vốn này có thể thu được từ việc tiếp cận với các khoản vay tín dụng với các chi phí vốn khác nhau (lãi suất). Sự lựa chọn đối nghịch Điều kiện quan trọng cho sự tồn tại của sự lựa chọn đối nghịch trong các trường hợp thông thường chính là sự bất cân xứng thông tin (Akerlof, 1970). Trong kinh tế học, bất cân xứng thông tin xảy ra khi một bên tham gia giao dịch có nhiều thông tin hơn hoặc các thông tin có được tốt hơn so với bên kia. Lý thuyết sự lựa chọn đối nghịch của thị trường tín dụng bắt nguồn từ nghiên cứu của Stiglitz và Weiss (1981).
Lý thuyết này dựa trên hai giả định chính: (1) Người cho vay không thể đánh giá chính xác được mức độ rủi ro của người đi vay, do đó không thể phân biệt người đi vay tốt và người đi vay xấu, (2) Hợp đồng cho vay có tính hữu hạn (Nghĩa là, nếu lợi nhuận của dự án thấp hơn nghĩa vụ nợ, thì người vay sẽ không có trách nhiệm phải thanh toán hết). Sự lựa chọn đối nghịch xảy ra khi người cho vay không thể nắm bắt được tất cả các đặc điểm của người đi vay (Karlan và Zinman, 2004). Người cho vay có thể cố gắng giả quyết vấn đề thông tin này một cách trực tiếp bằng cách cố gắng đánh giá các đặc điểm này hoặc một cách gián tiếp bằng cách bổ sung các điều khoản cho vay để ràng buộc người đi vay. Phương pháp điển hình để phân biệt người đi vay tốt và người đi vay xấu là yêu cầu người đi vay phải bổ sung tài sản thế chấp chẳng hạn như chứng từ thể hiện quyền sở hữu đất, nhà ở, bằng chứng thể hiện công việc đang làm… Người đi vay có rủi ro cao (người đi vay xấu) thì thường có khả năng thất bại cao hơn và cũng như có thể mất tài sản thế chấp.
Nếu ngân hàng đang xem xét hai hợp đồng tín dụng khác nhau, một hợp đồng với mức lãi suất cho vay cao và tài sản thế chấp có giá trị thấp, và một hợp đồng ngược lại (lãi suất thấp và giá trị thế chấp cao), thì trong trường hợp này những người đi vay có rủi ro cao sẽ tương ứng với hợp đồng đầu tiên, còn người đi vay có rủi ro thấp thì thường sẽ lựa chọn hợp đồng thứ hai. Nói cách khác, tài sản thế chấp có thể sử dụng như là một tiêu chí để phân biệt người đi vay tốt và người đi vay xấu. Nghiên cứu thực nghiệm Trong phần này đề tài tiến hành tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm đã tiến hành khi phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của các hộ kinh doanh. Dựa trên các phát hiện ở các nghiên cứu thực nghiệm này, đề tài tiến hành xây dựng mô hình nghiên cứu.
Nghiên cứu nước ngoài Kedir (2003) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của hộ kinh doanh ở Ethiopia. Theo đó, tác giả đã sử dụng mẫu nghiên cứu bao gồm 1500 hộ kinh doanh. Đồng thời, nghiên cứu cũng sử dụng phương pháp hồi quy Probit và Tobit với biến phụ thuộc là lượng vốn mà các hộ kinh doanh vay được từ ngân hàng. Bên cạnh đó, các yếu tố mà nghiên cứu sử dụng để phân tích khả năng tiếp cận tín dụng của hộ kinh doanh bao gồm tổng chi tiêu, giá trị tài sản, tài sản thế chấp, trình độ học vấn, nợ hiện tại, tuổi của chủ hộ, số lượng trẻ em trong gia đình, tình trạng hôn nhân của chủ hộ, giới tính của chủ hộ.
Qua đó, nghiên cứu tìm thấy rằng, các yếu tố như giá trị tài sản, tài sản thế chấp, nợ hiện tại, số lượng trẻ em có tương quan dương với biến vay tín dụng của các hộ kinh doanh ở mức ý nghĩa thống kê 0. Ngược lại, các yếu tố khác không có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng tiếp cận tín dụng của các hộ kinh doanh. Hơn thế nữa, nghiên cứu của tác giả cũng chỉ ra rằng, tuổi của chủ hộ có mối tương quan phi tuyến hình chữ U ngược với biến phụ thuộc của mô hình nghiên cứu ở mức ý nghĩa 0. Kết quả này ngụ ý rằng, ban đầu, khi tuổi của chủ hộ tăng thì sẽ có thể giúp các chủ hộ vay được nhiều hơn, nhưng khi vượt qua một ngưỡng tuổi nhất định, tuổi của chủ hộ càng tăng thì sẽ càng làm giảm lượng vốn mà chủ hộ tiếp cận được.
Okurut (2006) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của hộ kinh doanh ở các quốc gia ở Nam Phi. Theo đó, tác giả đã sử dụng mẫu nghiên cứu bao gồm 26.142 hộ kinh doanh ở năm 2000. Đồng thời, nghiên cứu cũng sử dụng phương pháp hồi quy Probit với biến phụ thuộc là biến giả bằng 01 khi các hộ kinh doanh dễ dàng tiếp cận với vốn vay và ngược lại bằng 0. Bên cạnh đó, các yếu tố 123doc 12 mà nghiên cứu sử dụng để phân tích khả năng tiếp cận tín dụng của hộ kinh doanh bao gồm tuổi của chủ hộ, giới tính của chủ hộ (nam), quy mô hộ kinh doanh, trình độ học vấn của chủ hộ.
Qua đó, nghiên cứu tìm thấy rằng, giới tính của chủ hộ (nam), quy mô hộ kinh doanh và trình độ học vấn có tương quan dương với biến vay tín dụng của các hộ kinh doanh ở mức ý nghĩa thống kê 0.