CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XẾP HẠN TÍN DỤNG CÁ NHÂN TẠI NHTM 1.1 Tổng quan về xếp hạng tín dụng.1 Khái niệm xếp hạng tín dụng (XHTD). XHTD là việc đưa ra nhận định về mức độ tín nhiệm đối với trách nhiệm tài chính; hoặc đánh giá mức độ rủi ro tín dụng phụ thuộc các yếu tố bao gồm năng lực đáp ứng các cam kết tài chính, khả năng dễ bị vỡ nợ khi các điều kiện kinh doanh thay đổi, ý thức và thiện chí trả nợ của người đi vay.2 Đối tượng xếp hạng tín dụng. Hệ thống XHTD tiếp cận đến tất cả các yếu tố có liên quan đến rủi ro tín dụng, các Ngân hàng thương mại (NHTM) không sử dụng kết quả XHTD nhằm thể hiện giá trị của người đi vay mà đơn thuần là đưa ra ý kiến hiện tại dựa trên các nhân tố rủi ro, từ đó có chính sách tín dụng và giới hạn cho vay phù hợp. Một sự xếp hạng cao của một khách hàng đi vay chưa phải là chắc chắn trong việc thu hồi đầy đủ các khoản nợ gốc và lãi vay, mà chỉ là cơ sở để đưa ra quyết định đúng đắn về tín dụng đã được điều chỉnh theo dự kiến mức độ rủi ro tín dụng có liên quan đến khách hàng là người đi vay và tất cả các khoản vay của khách hàng đó.
Xếp hạng người đi vay chủ yếu dự báo nguy cơ vỡ nợ theo ba cấp độ cơ bản là nguy hiểm, cảnh báo và an toàn dựa trên xác suất không trả được nợ PD (Probability of Default). Cơ sở của xác suất này là dữ liệu về các khoản nợ quá khứ trong vòng 5 năm trước đó của khách hàng, gồm các khoản nợ đã trả, khoản nợ trong hạn và khoản nợ không thu hồi được. Dữ liệu được phân theo ba nhóm: Nhóm dữ liệu tài chính liên quan đến các hệ số tài chính của khách hàng cũng như các đánh giá của các tổ chức xếp hạng; nhóm dữ liệu định tính phi tài chính liên quan đến trình độ quản lý, khả năng nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, các dữ liệu về khả năng tăng trưởng của ngành; Và nhóm dữ liệu mang tính cảnh báo liên quan đến các hiện tượng báo hiệu khả năng không trả được nợ, tình hình số dư tiền gửi, hạn mức thấu chi. Các nhóm dữ liệu 123doc 2 này được đưa vào một mô hình định sẵn để xử lý, từ đó tính được xác xuất không trả được nợ của khách hàng.
Đó có thể là mô hình tuyến tính, mô hình probit. và thường được xây dựng bởi các tổ chức tư vấn chuyên nghiệp. Xếp hạng khoản vay dựa trên cơ sở xếp hạng người vay và các yếu tố bao gồm tài sản đảm bảo, thời hạn cho vay, tổng mức dư nợ tại các tổ chức tín dụng, năng lực tài chính. Rủi ro của khoản vay được đo lường bằng xác suất rủi ro dự kiến EL (Expected Loss).
Xác xuất này được tính theo công thức EL = PD x EAD x LGD. Trong đó, EAD (Exposure at Default) là tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả được nợ ), LGD (Loss Given Default) là tỷ trọng tổn thất ước tính. Theo thống kê của ủy ban Basel, tại thời điểm không trả được nợ, khách hàng thường có xu hướng rút vốn vay tới mức gần xấp xỉ hạn mức được cấp. Hiệp ước Basel II yêu cầu tính EAD = Dư nợ bình quân + LEQ x Hạn mức tín dụng chưa sử dụng bình quân.
Trong đó, LEQ (Loan Equyvalent Exposure) là tỷ trọng phần vốn chưa sử dụng có nhiều khả năng sẽ được khách hàng rút thêm tại thời điểm không trả được nợ. LEQ x Hạn mức tín dụng chưa sử dụng bình quân đó chính là dư nợ khách hàng rút thêm tại thời điểm không trả được nợ ngoài mức dư nợ bình quân.Tổn thất ước tín bao gồm tổn thất về khoản vay và các tổn thất khác phát sinh như lãi suất đến hạn nhưng không được thanh toán, chi phí xử lý tài sản đảm bảo, chi phí cho dịch vụ pháp lý và một số chi phí liên quan. LGD là tỷ trọng phần vốn bị tổn thất trên tổng dư nợ tại thời điểm khách hàng không trả được nợ được tính theo công thức LGD = (EAD - Số tiền có thể thu hồi)/EAD.3 Tầm quan trọng của xếp hạng tín dụng. Hệ thống ngân hàng chiếm một vị trí quan trọng như là huyết mạch của nền kinh tế với vai trò cung cấp các sản phẩm dịch vụ chủ yếu trong quá trình hoạt động của các doanh nghiệp.
Trong đó, tín dụng là một phần quan trọng nhất của hoạt động ngân hàng. Tuy nhiên hoạt động tín dụng luôn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, đặc biệt là ở các nước có nền kinh tế mới nổi như Việt Nam bởi hệ thống thông tin thiếu minh bạch và không đầy đủ, trình độ quản trị rủi ro còn nhiều hạn chế, tính chuyên 123doc 3 nghiệp của cán bộ ngân hàng chưa cao,… Nợ xấu luôn tồn tại ở bất cứ ngân hàng nào từ ngân hàng nhỏ đến những ngân hàng hàng đầu thế giới vì nó là một phần tất yếu của hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Hiệu quả của quản trị rủi ro tín dụng là kiểm soát được nợ xấu ở một mức độ nhất định đảm bảo cho sự hoạt động bền vững của ngân hàng. Quản trị rủi ro tín dụng được thể hiện thông qua cơ chế, chính sách, mô hình tổ chức và mô hình quản trị rủi ro phù hợp với điều kiện kinh doanh, cơ sở hạ tầng, chính sách quản lý của Việt Nam nhằm hạn chế những rủi ro tín dụng có thể xảy ra.
Trong những năm gần đây, hệ thống ngân hàng đã bộc lộ nhiều điểm yếu kém trong hoạt động tín dụng, nợ xấu tăng cao, nguyên nhân xuất phát từ phía khách quan do tác động của cuộc khủng khoảng tài chính, tiền tệ toàn cầu và cũng một phần không nhỏ xuất phát từ phía chủ quan do việc quản lý tín dụng còn chưa chặt chẽ và một bộ phận cán bộ tín dụng trình độ và đạo đức nghề nghiệp yếu kém. Trước thực trạng trên, Ngân hàng Nhà nước những năm gần đây đã tập trung định hướng quản lý rủi ro trong lĩnh vực ngân hàng theo yêu cầu của Basel II thông qua các qui định về quản lý rủi ro và các buổi tập huấn, đào tạo cho các cán bộ ngân hàng. Một trong các yêu cầu cho định hướng trên là xây dựng và phát triển hệ thống xếp hạng tín dụng. Xếp hạng tín dụng giúp ngân hàng giảm chi phí và thời gian ra quyết định cho vay thông qua thực hiện chính sách khách hàng như hạn mức cho vay, thời hạn chovay, giá trị tài sản bảo đảm cần cho khoản vay, lãi suất cho vay.
Xếp hạng tín dụng giúp ngân hàng quản lý tốt hơn danh mục cho vay: giám sát và đánh giá các khoản tín dụng cho biết khoản vay có chất lượng tốt hay đang có xu hướng xấu đi từ đó đưa ra những giải pháp kịp thời. Xếp hạng tín dụng giúp phát triển chiến lược hướng tới các khách hàng tốt và rủi ro ít hơn. Và đặc biệt xếp hạng tín dụng giúp ngân hàng quản trị rủi ro tín dụng tốt hơn. Hệ thống xếp hạng tín dụng giúp ngân hàng thương mại quản trị rủi ro, kiểm soát mức độ tín nhiệm của khách hàng và thiết lập các chính sách tín dụng, quản trị phù hợp nhằm hạn chế tối thiểu rủi ro tín dụng có thể xảy ra.
Ngân hàng thương 123doc 4 mại, nhờ đó, có thể đánh giá hiệu quả danh mục cho vay thông qua giám sát sự thay đổi dư nợ và phân loại nợ trong từng nhóm khách hàng đã được xếp hạng, qua đó điều chỉnh danh mục theo hướng ưu tiên nguồn lực vào nhóm những khách hàng an toàn.2 Cơ sở lý luận về xếp hạng tín dụng 1.1 Lịch sử phát triển của mô hình xếp hạng tín dụng cá nhân Các mô hình xếp hạng tín dụng cá nhân đã xuất hiện cách đây hơn 50 năm. Theo mô hình này, khả năng thanh toán nợ của các cá nhân có các khoản vay thế chấp nhà ở, các khoản vay giáo dục, vay nâng cấp nhà. sẽ được lượng hóa bằng một điểm số tín dụng. Với việc sử dụng điểm số này, bên cho vay có thể đánh giá mức độ rủi ro của khách hàng về khả năng trả nợ quá hạn hoặc mất khả năng thanh toán.
Kể từ khi xuất hiện, với tính chính xác cao trong việc đánh giá khả năng thanh toán nợ, mô hình xếp hạng tín dụng cá nhân đã trở thành một công cụ quản lý hiệu quả các rủi ro tín dụng cho các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính khác. Lợi thế đáng kể nhất của mô hình này là việc lượng hóa khả năng thanh toán nợ của bên vay thành một điểm số, tạo điều kiện cho những người cho vay đưa ra quyết định nhanh hơn, nhất quán hơn và hiệu quả hơn, từ đó dẫn đến việc giảm đáng kể chi phí. Xếp hạng tín dụng chủ yếu dựa trên sự khác biệt nhóm dân số nơi mà đặc điểm của từng thành viên trong cùng một nhóm không thể quan sát trong khi sự khác biệt tương đối giữa các nhóm được xác định. Phương pháp này lần đầu tiên được đưa ra bởi RA Fisher vào năm 1936 khi ông tiến hành phân biệt các khoản nợ xấu và tốt bằng phương pháp thống kê đa biến.
Năm 1941, David Durand công nhận phương pháp này có thể được sử dụng để phân biệt giữa các khoản vay tốt và xấu. Nghiên cứu của ông dựa trên các dữ liệu được cung cấp bởi các ngân hàng và công ty tài chính , các khoản cho vay được phân loại theo các đặc điểm khác nhau của khách hàng vay mà người cho vay nắm được và so sánh kinh nghiệm thu hồi khoản vay giữa các nhóm. 123doc 5 Các hệ thống chấm điểm đầu tiên được phát triển bởi Bill Fair và Earl Isaac vào năm 1958. Dự án ban đầu của họ chứng minh thành công giá trị của điểm số tín dụng.
Hệ thống chấm điểm giúp giảm 20-30% khoản nợ quá hạn trong khi vẫn duy trì khối lượng cho vay, hệ thống này cũng có thể được sử dụng để tăng khối lượng cho vay 20-30% ở cùng một số lượng các khoản nợ quá hạn (Hollis Fishelson). Trong những năm 1960, sự ra đời của thẻ tín dụng đánh dấu một bước tiến mới cho hệ thống xếp hạng tín dụng cá nhân. Phương pháp truyền thống dựa vào đánh giá của nhân viên tín dụng không thể đáp ứng đủ nhu cầu đăng ký thẻ tín dụng ngày càng gia tăng một cách nhanh chóng.