Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận về nguồn vốn tín dụng ưu đãi và hiệu quả sử dụng nguồn vốn tín dụng ưu đãi. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Thực trạng nguồn vốn và hiệu quả sử dụng nguồn vốn tín dụng ưu đãi tại NHCSXH Chi nhánh Hà Nội.
Chương 5: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn tín dụng ưu đãi tại NHCSXH Chi nhánh Hà Nội. 4 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU Tín dụng ngân hàng là vấn đề được quan tâm và nghiên cứu sâu rộng với rất nhiều mô hình, công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, trong đó, bên cạnh tín dụng thương mại thông thường thì những nghiên cứu về tín dụng vi mô cũng rất được quan tâm. Mô hình tín dụng ưu đãi được triển khai thực hiện tại Việt Nam hiện nay cũng dựa trên mô hình tín dụng vi mô đã được nghiên cứu và ứng dụng từ rất lâu ở một số quốc gia trên thế giới. Từ năm 1976, nhà kinh tế học Muhamnad Yunus đã nghiên cứu và đưa vào ứng dụng mô hình tín dụng vi mô (Microfinance) qua ngân hàng Grameen, Bangladesh do chính ông sáng lập.
Tại buổi diễn văn tại Trường Đại học Harvard, Hoa Kỳ năm 2012, Muhammad Yunus đã chia sẻ ý tưởng mô hình tín dụng vi mô khởi nguồn trong thời điểm ông đang đi tìm hiểu về nạn đói ở vùng nông thôn. Lúc này, Muhammad Yunus đã gặp một vài người đang mắc nợ, tổng cộng có 42 người, họ cần 27 đô la để phát triển sản xuất kinh doanh, Yunus đã có ý tưởng mà sau này đã trở thành hiện tượng, một bước ngoặt thay đổi cuộc sống của người nghèo. Ông cho rằng những khoản tín dụng nhỏ có thể tạo ra sự khác biệt, mỗi người đều có trong họ những ý tưởng kinh doanh sẵn có, tất cả những gì họ cần chỉ là đồng vốn cho họ khởi nghiệp.Và ngân hàng Grameen ra đời, sử dụng nguồn vốn cho người nghèo vay những khoản vay nhỏ không cần tài sản thế chấp, không lãi suất và không ngày đáo hạn. Dựa trên mô hình tín dụng vi mô, ngân hàng Grameen triển khai cho vay những khoản tín dụng nhỏ theo nhóm nhỏ, các thành viên giám sát và quản lý lẫn nhau cùng sự tư vấn của nhân viên ngân hàng và nếu có một thành viên không trả được nợ thì các thành viên khác sẽ bị từ chối cho vay, vì vậy, tạo thành cơ chế ràng buộc và hối thúc thu hồi nợ đúng hạn cho ngân hàng.Cho đến nay, Mohammad Yunus và ngân hàng Grameen đã đạt được nhiều thành công vang đội.
Đồng thời, mô hình tín dụng vi mô của Muhammad Yunus đã trở thành một hình mẫu và tiếp tục được nhiều tác giả kế thừa, nghiên cứu và ứng dụng vào từng quốc gia, từng khu vực khác nhau trên khắp thế giới. 5 z Mosely và Hulme (1998) hay Pitt và Khandker (1996, 1998) đã có những khảo sát cho thấy tác động của doanh số cho vay đã tăng lên cùng với thu nhập của hộ vay. Hay tác giả Mohammad Arifujjaman Khan và Mohammand Anisur Rahaman (2007) đã nghiên cứu và đưa ra kết luận rằng tín dụng vi mô có ảnh hướng đáng kể tới việc nâng cao chất lượng cuộc sống người nghèo cả về mặt kinh tế và mặt xã hội, người nghèo dễ tiếp cận tín dụng ưu đãi, không cần tài sản đảm bảo và thủ tục vay rất đơn giản, dễ hiểu và đầy đủ thông tin và nhờ có khoản tín dụng vi mô, thu nhập của người nghèo đã có sự gia tăng. Ngoài ra, trên thế giới còn có một số những công trình nghiên cứu của các tác giả như: Robinson Marguerite.
“The Microfinance Revolution: Sustainable Finance for the Poor”; Remenyi Joe and Quinones, Bejamin. “Microfinance and Poverty Alleviation: Case studies from Asia and the Pacific”. New York; Khandker, Shahid. “Does Micro-finance really benefit the Poor? Evidence from Bangladesh”, Manila đã kết luận rằng tín dụng vi mô góp phần làm giảm tỉ lệ hộ nghèo và gia tăng thu nhập cho người nghèo.
Những công trình nghiên cứu trên đã bước đầu xây dựng mô hình tín dụng vi mô và triển khai ở một số nước với những thành công nhất định. Tại Việt Nam, tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác cũng dựa trên mô hình tín dụng vi mô với những điều chỉnh nhất định theo quy định của Chính phủ sao cho phù hợp với hoàn cảnh đất nước nói chung và phù hợp với mục đích thực hiện mục tiêu an sinh xã hội của đất nước một cách hiệu quả nhất. Đã có một số công trình nghiên cứu ở Việt Namcó một số phân tích và đánh giá về tín dụng ưu đãi, tuy nhiên, hiện chưa có nhiều do đa số các công trình nghiên cứu, bài báo khoa học về mảng tín dụng ngân hàng hiện vẫn tập trung vào tín dụng thương mại thông thường. Tuy vậy những năm qua, đã có một số công trình về tín dụng ưu đãi cùng với những kết quả nghiên cứu đáng khích lệ.
Luận án Tiến sĩ Kinh tế “Giải pháp hoàn thiện mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội” của Hà Thị Hạnh (2004) và đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Mô hình Ngân hàng Chính sách và các giải pháp tăng cường hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Chính 6 z sách” của Nhóm nghiên cứu (2000) đã đưa ra những phân tích về tín dụng đối với người nghèo, nêu bật được vai trò của tín dụng chính sách đã góp phần đáng kể vào giảm tỷ lệ nghèo của Việt Nam trong giai đoạn 1993-2000 và đề xuất các giải pháp nhằm tổ chức hiệu quả mô hình hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội. Năm 2007, Đỗ Thanh Hiền với công trình nghiên cứu Luận văn Thạc sĩ đã có những phân tích khá chi tiết về tín dụng đối với hộ nghèo thực hiện trong phạm vi NHCSXH Thành phố Hà Nội, thể hiện rõ nét hiệu quả của các chương trình tín dụng đối với hộ nghèo đã góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo trên toàn thành phố và có đề xuất một số giải pháp khá thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả cho vay đối tượng hộ nghèo. Luận văn Thạc sĩ “Tín dụng cho người nghèo ở Hà Nội” của Hoàng Liên Sơn (2008) cũng đã có những đánh giá về tín dụng hộ nghèo trên địa bàn Hà Nội và đưa ra một số nhóm giải pháp để nâng cao hiệu quả tín dụng với hộ nghèo. Ngoài ra, cũng có khá nhiều những bài báo đăng tải trên đặc san của Ngân hàng Chính sách xã hội hoặc các thời báo khác.
Vụ tín dụng – TTBC (VP) năm 2013 đã có bài viết “Trên 21 triệu lượt hộ nghèo và các đối tượng chính sách được vay vốn ưu đãi” đăng tải trên tạp chí ngân hàng đã đánh giá thực trạng đối tượng chính sách được tiếp cận với nguồn vốn ưu đãi, kết quảthực hiện các chương trình tín dụng ưu đãi trong hơn 10 năm thành lập và hoạt động của NHCSXH góp phần xóa đói giảm nghèo của đất nước tương đối khả quan và đề xuất một số giải pháp giúp giảm nghèo đạt kết quả cao hơn. Bài viết “Hành trình của đồng vốn ưu đãi” của tác giả Hữu Hải (2012) đã nêu bật những thành công, những mặt đạt được của NHCSXH trong công cuộc đem đồng vốn ưu đãi đến với người vay và hiệu quả xã hội của đồng vốn ưu đãi. Tất cả những công trình nghiên cứu, những bài viết, chuyên đề nói trên về tín dụng ưu đãi đa phần chỉ tập trung vào nghiên cứu riêng lẻ từng nhóm đối tượng, đánh giá hiệu quả cho vay hộ nghèo, cho vay các đối tượng chính sách, cho vay giải quyết việc làm., nghiên cứu về nguồn vốn của NHCSXH hoặc chỉ đánh giá sơ bộ thực trạng sử dụng vốn tín dụng ưu đãi mà chưa nghiên cứu về mặt tổng thể hoạt động sử dụng nguồn vốn tín dụng ưu đãi để cho vay, để đề xuất nhóm giải pháp 7 z nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn tín dụng ưu đãi nói chung một cách có hệ thống. Vì thế, luận văn trên cơ sở kế thừa những công trình nghiên cứu đi trước sẽ đi vào phân tích một cách tổng thể tình hình sử dụng nguồn vốn tín dụng ưu đãi và đề xuất nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tín dụng ưu đãi tại Ngân hàng Chính sách xã hội, phạm vi Chi nhánh Thành phố Hà Nội.
8 z CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN VỐN TÍN DỤNG ƢU ĐÃI VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN TÍN DỤNG ƢU ĐÃI 2. Ngân hàng và hoạt động tín dụng của Ngân hàng: 2. Ngân hàng và các hoạt động của Ngân hàng: 2. Ngân hàng: Ngân hàng là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọng trong nền kinh tế.
Ngân hàng làtổ chức tài chính cung cấp danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế, đó là các chức năng như chức năng tín dụng, đầu tư, thanh toán, tiết kiệm, quản lý tiền mặt, bảo lãnh, môi giới, bảo hiểm hay ủy thác. Ngân hàng có thể chia thành một số loại khác nhau dựa trên mục tiêu và đặc thù hoạt động.Ngoài Ngân hàng Trung ương, dựa trên tiêu chí mục tiêu hoạt động, có thể chia ngân hàng thành 2 loại: i. Vì mục tiêu lợi nhuận: Ngân hàng thương mại: là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan như hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngân hàng đầu tư: là một định chế đóng vai trò như một trung gian tài chính để thực hiện hàng loạt các dịch vụ liên quan tới tài chính như bảo lãnh: làm trung gian giữa các tổ chức phát hành chứng khoán và nhà đầu tư; tư vấn: giúp giàn xếp các thương vụ mua lại và sáp nhập cùng các hoạt động tái cơ cấu doanh nghiệp khác; môi giới: cho khách hàng là các tổ chức.
Đối tượng chính của ngân hàng đầu tư là các tổ chức, công ty và chính phủ, không phải là khách hàng cá nhân. Không vì mục tiêu lợi nhuận: Khác với các ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, các ngân hàng đặc thù nhà nước hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận.