phần mở đầu và kết luận, các hình, bảng biểu., nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng thƣơng mại Việt Nam Chƣơng 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng chi nhánh ngân hàng thƣơng mại cổ phần đầu tƣ và phát triển Bảo Lộc 4 Chƣơng 3: Các giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển việt nam chi nhánh Bảo Lộc 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Rủi ro tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm rủi ro tín dụng ngân hàng Có nhiều cách tiếp cận khái niệm rủi ro tín dụng. Rủi ro tín dụng là loại rủi ro thất thoát tài sản có thể phát sinh khi một bên đối tác không thực hiện một nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng đối với một ngân hàng, bao gồm cả việc không thanh toán nợ cho dù đấy là nợ gốc hay nợ lãi khi khoản nợ đến hạn.
Hiểu một cách khác thì RRTD đó là rủi ro không thu hồi đƣợc nợ khi đến hạn do ngƣời vay đã không thực hiện đúng cam kết vay vốn theo hợp đồng tín dụng, không tuân thủ nguyên tắc hoàn trả khi đến hạn. Đây là loại rủi ro gắn liền với hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng. Căn cứ vào khoản 01 Điều 02 của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro theo Quyết định số 493 /2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.” Nhƣ vậy, có thể nói rằng rủi ro tín dụng có thể xuất hiện trong các mối quan hệ mà trong đó ngân hàng là chủ nợ còn khách hàng nợ lại không thực hiện hoặc không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn. Đặc điểm rủi ro tín dụng ngân hàng Để phòng ngừa RRTD, việc nhận biết đặc điểm của RRTD là điều cần thết, RRTD có những đặc điểm sau đây: - Rủi ro tín dụng mang tính tất yếu : rủi ro tín dụng luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng.
Chấp nhận rủi ro là tất yếu trong hoạt động ngân hàng. Các ngân hàng phải đánh giá các cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan hệ rủi ro lợi nhuận nhằm tìm ra những cơ hội đạt đƣợc những lợi ích xứng đáng với mức rủi ro chấp nhận. Ngân hàng sẽ hoạt động tốt nếu mức rủi ro mà ngân hàng gánh 6 chịu là hợp lý và kiểm soát đƣợc và nằm trong phạm vi khả năng các nguồn lực tài chính và năng lực tín dụng của ngân hàng. - Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp : Rủi ro tín dụng xảy ra sau khi ngân hàng giải ngân vốn vay và trong quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng.
Do tình trạng thông tin bất cân xứng nên ngân hàng ở vào thế bị động, ngân hàng thƣờng biết thông tin sau hoặc biết thông tin không chính xác về những khó khăn thất bại của khách hàng và do đó thƣờng có những ứng phó chậm trễ. - Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng, phức tạp : đặc điểm thể hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng cũng nhƣ diễn biến sự việc, hậu quả khi xảy ra rủi ro. Do đó, khi phòng ngừa và xử lý RRTD phải chú ý đến mọi dấu hiệu, xuất phát từ nguyên nhân bản chất và hậu quả do RRTD đem lại đển có biện pháp phòng ngừa phù hợp. Dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng Một số dấu hiệu cảnh báo rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng: Nhóm 1: Nhóm các dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với ngân hàng Khách hàng có biểu hiện: + Các khoản nợ gốc và lãi khách hàng không thanh toán đầy đủ hoặc chậm thanh toán.
+ Xin ngân hàng cho kéo dài thời hạn trả nợ, xin gia hạn nợ + Có biểu hiện giảm vốn điều lệ + Vốn vay bị sử dụng với mục đích khác so với thoả thuận trong hợp đồng + Chu kì vay thƣờng xuyên gia tăng Nhóm 2: Nhóm các dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý và tổ chức khách hàng + Không có sự thống nhất trong hội đồng quản trị hay ban điều hành về quan điểm, mục đích, cách thức quản lý. + Quản lý nhân sự yếu kém, cơ cấu không hợp lý dẫn đến việc dùng ngƣời không hiệu quả và có hiện tƣợng những ngƣời có năng lực rời khỏi công ty + Nội bộ không đoàn kết, có sự mâu thuẫn và tranh giành quyền lực. 7 + Phát sinh nhiều khoản chi phí không hợp lý Nhóm 3: Nhóm các dấu hiệu về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp + Giá trị sản lƣợng hoặc doanh thu của doanh nghiệp suy giảm + Thu nhập không ổn định và thiếu tính thƣờng xuyên + Chậm trễ trong thanh toán lƣơng cho nhân viên + Hệ số quay vòng vốn lƣu động thấp, khả năng thanh toán giảm + Các khoản nợ thƣơng mại gia tăng một cách bất thƣờng Nhóm 4: Nhóm dấu hiệu thuộc về xử lý thông tin tài chính, kế toán + Chậm chễ hay trì hoãn nộp báo cáo tài chính, các số liệu trong báo cáo tài chính không hợp lý và thiếu chuẩn xác + Tăng doanh số bán hàng nhƣng lãi giảm hoặc lỗ + Tiền mặt giảm, vốn lƣu động giảm + Sản xuất và bán hàng không đạt chỉ tiêu nhƣ kế hoạch Nhóm 5: Nhóm các dấu hiệu thuộc về thương mại + Doanh nghiệp chuyển lĩnh vực kinh doanh, kinh doanh những ngành nghề mà không thuộc chuyên môn của mình, lĩnh vực có độ rủi ro cao + Yếu tố đầu vào không thuận lợi nhƣ: giá cả nguyên vật liệu đầu vào tăng, không nhập đƣợc những nguyên liệu đặc chủng. + Cơ cấu vốn của doanh nghiệp không hợp lý, sử dụng vốn sai mục đích ví dụ nhƣ: dùng vốn vay ngắn hạn để mua sắm, tài trợ cho tài sản cố định, nhà xuởng.
+ Chi phí của doanh nghiệp không hợp lý Nhóm 6: Nhóm các dấu hiệu về mặt pháp luật + Có những thay đổi về chính sách liên quan đến ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp theo chiều hƣớng bất lợi + Doanh nghiệp có biểu hiện vi phạm pháp luật 8 1. Phân loại rủi ro tín dụng ngân hàng Có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng khác nhau tùy theo mục đích, yêu cầu nghiên cứu. Tùy theo tiêu chí phân loại mà ngƣời ta chia rủi ro tín dụng thành các loại khác nhau. Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng đƣợc phân chia thành các loại sau đây : Rủi ro tín dụng Rủi ro giao Rủi ro danh dịch mục Rủi ro lựa Rủi ro bảo Rủi ro nghiệp Rủi ro tập Rủi ro nội tại chọn đảm vụ trung - Rủi ro giao dịch (Transaction rish) : là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng.
Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. + Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phƣơng án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. + Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo nhƣ các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo. + Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề.
9 - Rủi ro danh mục (Porfolio rish): là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, đƣợc phân chia thành hai loại là rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. + Rủi ro nội tại (Intrinsic rish): xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. + Rủi ro tập trung (Concentration rish) là trƣờng hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.
Nếu phân loại theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây ra rủi ro thì rủi ro tín dụng đƣợc phân thành rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan. Rủi ro khách quan là rủi ro do các nguyên nhân khách quan nhƣ thiên tai, địch họa, ngƣời vay bị chết, mất tích và các biến động ngoài dự kiến khác làm thất thoát vốn vay trong khi ngƣời vay thực hiện nghiêm túc chế độ chính sách. Rủi ro chủ quan do nguyên nhân thuộc về ngƣời vay hoặc ngƣời cho vay do vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì những lý do chủ quan khác. Ngoài ra còn nhiều hình thức phân loại khác nhƣ phân loại căn cứ theo cơ cấu các loại hình rủi ro, phân loại theo nguồn gốc hình thành, theo đối tƣợng sử dụng vốn vay….
Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng ngân hàng Trong quan hệ tín dụng, có hai đối tƣợng tham gia là NH cho vay và KH đi vay, KH sử dụng tiền vay trong một thời gian, không gian cụ thể, tuân theo sự chi phối của những điều kiện cụ thể nhất định mà ta gọi là môi trƣờng kinh doanh. Đây là đối tƣợng thứ ba có mặt trong quan hệ tín dụng. RRTD xuất phát từ môi trƣờng kinh doanh gọi là rủi ro do nguyên nhân khách quan, rủi ro xuất phát từ KH vay và NH cho vay gọi là rủi ro do nguyên nhân chủ quan. Nguyên nhân khách quan Nguyên nhân từ môi trƣờng kinh tế: - Do thiên tai hỏa hoạn - Tình hình an ninh, chính trị trong nƣớc, trong khu vực không ổn định.