Chương 1: Lý do tác giả chọn đề tài và trình bày tổng quan các nội dung chính luận văn Chương 2: Lý thuyết nền và tổng quan nghiên cứu thực nghiệm Chương 3: Mô hình nghiên cứu và giải thích các biến được sử dụng để phân tích Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm và phân tích mối quan hệ của tỷ giá hối đoái thực và cán cân thương mại Việt Nam Chương 5: Gợi ý chính sách tỷ giá hướng đến mục tiêu cân bằng cán cân thương mại tại Việt Nam 2 CHƢƠNG 2: LÝ THUYẾT NỀN VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.1 Khung lý thuyết về tác động của tỷ giá hối đoái đến cán cân thương mại 2.1 Điều kiện Marshall – Lerner Yếu tố mấu chốt của điều kiện Marshall – Lerner do hai nhà kinh tế Alfred Marshall va Abba Lerner (1923;1944) là sự co giãn theo giá của xuất khẩu và nhập khẩu tác động tới cán cân thương mại. Nghiên cứu và áp dụng phương pháp này có ý nghĩa rất lớn trong việc giải quyết vấn đề: “Phá giá tiền tệ có thể giảm thâm hụt cán cân thương mại quốc gia hay không ?” Phương pháp này dựa trên giả thiết: Cung và cầu hàng hóa có hệ số co giãn hoàn hảo, nghĩa là ứng với mỗi mức giá nhất định thì nhu cầu hàng hóa xuất nhập khẩu luôn luôn được thỏa mãn. Hệ số co giãn xuất khẩu thể hiện phần trăm thay đổi của xuất khẩu khi tỷ giá thay đổi 1% ηx = (dX/X)/(dE/E) Hệ số co giãn nhập khẩu thể hiện phần trăm thay đổi của nhập khẩu khi tỷ giá thay đổi 1% ηm = (dM/M)/(dE/E) Điều kiện Marshall-Lerner phát biểu rằng, để cho việc phá giá tiền tệ có tác động tích cực tới cán cân thanh toán, thì giá trị tuyệt đối của tổng hai độ co giãn theo giá cả của xuất khẩu và độ co giãn theo giá cả của nhập khẩu phải lớn hơn 1, (ηx +ηm >1). Khi chúng ta định giá thấp đồng nội tệ nghĩa là giá hàng xuất khẩu tính theo ngoại tệ giảm và số lượng hàng xuất khẩu sẽ tăng lên.
Đồng thời, giá hàng nhập khẩu tính theo nội tệ sẽ tăng lên và cầu nhập khẩu sẽ giảm. 3 Tuy nhiên, trong ngắn hạn, hệ số co giãn khá nhỏ, điều này làm cho điều kiện Marshall – Lerner kém thỏa mãn và không còn chính xác, chính vì vậy điều kiện Marshall – Lerner chỉ có thể được duy trì trong dài hạn. Có quan điểm cho rằng các nước đang phát triển thường phụ thuộc nhiều vào hàng nhập khẩu nên độ co giãn giá của cầu hàng nhập khẩu là nhỏ (tức trị giá nhập khẩu sẽ không giảm bao nhiêu khi phá giá nội tệ). Các nước phát triển có thị trường xuất khẩu tương đối có tính cạnh tranh nên độ co giãn cầu hàng xuất khẩu có thể lớn hơn (tức giá trị xuất khẩu tăng mạnh khi phá giá nội tệ).
Điều này hàm ý rằng phá giá ở các nước phát triển sẽ có tác động cải thiện cán cân thương mại mạnh hơn so với các nước đang phát triển hay nói cách khác, việc phá giá là một giải pháp có thể cải thiện thâm hụt thương mại ở quốc gia này nhưng có thể sẽ không có tác động ở quốc gia khác. Nó cũng khuyến cáo các quốc gia đang phát triển nên thận trọng khi sử dụng biện pháp phá giá mạnh đồng nội tệ của mình nhằm kích thích xuất khẩu.2 Hiệu ứng phá giá tác động lên cán cân thương mại và Đường cong J Chính vì sự thiếu chính xác của điều kiện Marshall – Lerner trong ngắn hạn, đường cong J đã ra đời nhằm khắc phục hạn chế đó. Lý thuyết đường cong J chỉ ra rằng, việc phá giá tiền tệ trong ngắn hạn sẽ khiến cho cán cân thương mại quốc gia bị thâm hụt, nhưng sau đó, khi hệ số co dãn bắt đầu tăng, cán cân thương mại sẽ được cải thiện. Năm 1991, khi phân tích việc phá giá đô la Mỹ trong thời gian 1985 – 1987, Krugman đã tìm ra hiệu ứng đường cong J, mô tả hiện tượng cán cân vãng lai bị xấu đi trong ngắn hạn và chỉ có thể cải thiện trong dài hạn.
Việc phá giá tiền tệ là làm giá trị đồng nội tệ so với các ngoại tệ khác. Phá giá sẽ làm tăng tỷ giá danh nghĩa kéo theo tỷ giá thực tăng sẽ kích thích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, cải thiện cán cân thương mại. Khi tỷ giá tăng (phá giá), giá xuất khẩu rẻ đi khi tính bằng ngoại tệ, giá nhập khẩu tính theo đồng nội tệ tăng được gọi là hiệu ứng giá cả. Khi tỷ giá giảm làm giá hàng xuất khẩu rẻ hơn đã làm tăng khối lượng xuất khẩu trong khi hạn chế khối 4 lượng nhập khẩu.
Hiện tượng này gọi là hiêu ứng khối lượng. Cán cân thương mại xấu đi hay được cải thiện tùy thuộc vào hiệu ứng giá cả và hiệu ứng số lượng cái nào trội hơn. Trong ngắn hạn, khi tỷ giá tăng trong lúc giá cả và tiền lương trong nước tương đối cứng nhắc sẽ làm giá hàng hóa xuất khẩu rẻ hơn, nhập khẩu trở nên đắt hơn: các hợp đồng xuất khẩu đã được ký kết với tỷ giá cũ, các doanh nghiệp trong nước chưa huy động đủ nguồn lực để sẵn sàng tiến hàng sản xuất nhiều hơn nhằm đáp ứng nhu cầu xuất khẩu tăng lên, cũng như nhu cầu trong nước tăng lên. Ngoài ra, trong ngắn hạn, cầu hàng nhập khẩu không nhanh chóng giảm còn do tâm lý người tiêu dùng.
Khi phá giá, giá hàng nhập khẩu tăng lên, tuy nhiên người tiêu dùng có thể lo ngại về chất lượng hàng nội hay trong nước chưa có hàng thay thế xứng đáng hàng nhập làm cho cầu hàng nhập khẩu chưa thể giảm ngay. Do đó, số lượng hàng xuất khẩu trong ngắn hạn không tăng lên nhanh chóng và số lượng hàng nhập cũng không giảm mạnh. Vì vậy, trong ngắn hạn hiệu ứng giá cả có tính trội hơn hiệu ứng số lượng làm cho cán cân thương mại xấu đi.1: Hiệu ứng đƣờng cong J Trong dài hạn, giá hàng nội địa giảm đã kích thích sản xuất trong nước và người tiêu dung trong nước cũng đủ thời gian tiếp cận và so sánh chất lượng hàng 5 trong nước với hàng nhập. Mặt khác, trong dài hạn, doanh nghiệp có thời gian tập hợp đủ các nguồn lực để tăng khối lượng sản xuất.
Lúc này, sản lượng bắt đầu co giãn, hiệu ứng số lượng có tính trội hơn hiệu ứng giá cả làm cán cân thương mại được cải thiện. Nguyên nhân xuất hiện đường cong J là do trong ngắn hạn hiệu ứng giá cả có tính trội hơn hiệu ứng số lượng nên làm xấu đi cán cân thương mại, ngược lại trong dài hạn hiệu ứng số lượng có tính trội hơn hiệu ứng giá cả làm cán cân thương mại được cải thiện. Tuy nhiên, theo định nghĩa mở rộng về hiệu ứng đường cong J của Rose và Yellen (1989) và Rose (1991) khi sử dụng dữ liệu song phương đã không tìm thấy đường cong J trong ngắn hạn và trong dài hạn phải có sự tác động của các yếu tố khác lên các cân thương mại để đạt trạng thái cân bằng. Một số nhân tố ảnh hưởng đến thời gian tác động lên cán cân thương mại trong lý thuyết hiệu ứng đường cong J: Năng lực sản xuất hàng hóa thay thế nhập khẩu.
Đối với các nền kinh tế đang phát triển (Việt Nam thuộc nhóm nước này), có một số hàng hoá các nền kinh tế này không thể sản xuất được hay có sản xuất được đi nữa thì chất lượng không tốt hoặc giá cả có thể cao hơn. Vì vậy, giá nhập khẩu có đắt hơn, người tiêu dùng cũng không thể lựa chọn hàng hoá trong nước. Điều này làm kéo dài thời gian của hiệu ứng giá cả. Tỷ trọng hàng hóa đủ tiêu chuẩn xuất khẩu.
Đối với các nước phát triển tỷ lệ hàng hoá đủ chuẩn tham gia thương mại quốc tế cao nên hiệu ứng giá cả có thời gian tác động lên cán cân thương mại thường là thấp. Ngược lại, các nước đang phát triển tỷ trọng loại hàng hoá này nhỏ, cho nên một sự phá giá tiền tệ làm cho khối lượng xuất khẩu tăng chậm hơn. Điều này làm cho hiệu ứng khối lượng ít có tác động đến cán cân thương mại hơn ở các nước đang phát triển. Vì vậy, tác động cải thiện cán cân thương mại của phá giá ở các nước phát triển thường mạnh hơn ở các nước đang phát triển.
6 Tỷ trọng hàng nhập khẩu trong giá thành hàng sản xuất trong nƣớc. Nếu tỷ trọng này cao, giá thành sản xuất của hàng hoá trong nước sẽ tăng lên khi hàng nhập khẩu tăng giá. Điều này làm triệt tiêu lợi thế giá rẻ của hàng xuất khẩu khi phá giá. Cho nên, phá giá tiền tệ chưa hẳn đã làm tăng khối lượng hàng xuất khẩu.
Mức độ linh hoạt của tiền lƣơng. Động thái phá giá tiền tệ thường làm chỉ số giá hàng tiêu dùng tăng lên. Nếu tiền lương linh hoạt, nó sẽ tăng lên theo chỉ số giá. Điều này làm tăng chi phí sản xuất, từ đó làm cho giá hàng trong nước giảm bớt lợi thế có được từ phá giá tiền tệ.
Tâm lý ngƣời tiêu dùng và thƣơng hiệu quốc gia của hàng hóa trong nƣớc. Nếu người tiêu dùng trong nước có tâm lý sùng hàng ngoại, thì một sự đắt lên của hàng nhập và sự rẻ đi của hàng trong nước có tác động đến hành vi tiêu dùng của họ, họ sẽ tiếp tục sử dụng hàng nhập mặc dù giá có đắt hơn. Tiếp theo, mức độ gia tăng số lượng hàng xuất khẩu phụ thuộc vào sự tin tưởng và ưa chuộng hàng hoá xuất khẩu của người tiêu dùng nước ngoài.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của tỷ giá đến cán cân thương mại Nghiên cứu của Rose và Yellen (1989) sử dụng dữ liệu tách biệt về thương mại song phương trong trường hợp dữ liệu của Mỹ giai đoạn 1960 đến 1985 đã không tìm thấy sự tồn tại của đường cong J và không tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ dài hạn. Kết quả của bà ta chỉ ra mối quan hệ giữa cán cân thương mại và tỉ giá là không đáng kể, điều này có nghĩa là giảm giá trị sẽ không cải thiện cán cân thương mại trong thời gian dài.
7 Bahmani-Oskooee (1994) trong bài nghiên cứu “Tác động của giảm giá trong ngắn hạn và dài hạn: Mô hình hiệu chỉnh sai số và đồng liên kết” đã thử nghiệm ở 41 nước phát triển và kém phát triển về sự tồn tại của đồng liên kết và hiệu ứng đường cong J áp dụng thủ tục hai bước Engle-Granger. Kết quả cho thấy cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái thực là đồng liên kết chỉ có ở 14 quốc gia.