Mở đầu là bài nghiên cứu của McCarthy (2000).Trong bài nghiên cứu : “Pass- Through of Exchange Rates and Import Prices to Domestic Inflation in Some Industrialized Economies”. Ông là người tiên phong trong việc sử dụng mô hình VAR để thực hiện nghiên cứu về truyền dẫn tỷ giá hối đoái. Ông sử dụng mô hình VAR đệ qui (Recursive VAR) để nghiên cứu mức tác động của tỷ giá hối đoái và chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá tiêu dung tại một số nền kinh tế phát triển giai đoạn 1976-1988. Kết quả nghiên cứu cho thấy: (1) Việc nâng giá đồng nội tệ sẽ làm giảm giá cả nhập khẩu và điều này kéo dài với thời gian ít nhất là 1 năm ở hầu hết các nước khảo sát.
Kết quả bài nghiên cứu này cho thấy rằng (1) Hệ số truyền dẫn từ tỷ giá hối đoái tới giá nhập khẩu (import price) là khá cao trong nền kinh tế khủng hoảng lớn; (2) Hệ số truyền dẫn từ tỷ giá tới chỉ số giá tiêu dùng (CPI – Costumer Price Index) là thấp. Điều này hàm ý rằng tỷ giá hối đoái tác động không lớn tới lạm phát của các quốc gia Châu Á trong giai đoạn khủng hoảng Đến năm 2007, cũng giống như , Takatoshi Ito và Kiyotaka Sato Michele Ca’ Zorzi, Elke Hahn và Marcelo Sánchez cũng thực hiện nghiên cứu về cơ chế truyền dẫn từ tỷ giá hối đoái nhưng bài nghiên cứu này đã chọn các nền kinh tế mới nổi (Exchange rate pass through in emerging market). Tác giả kiểm định trong 12 nền kinh tế mới nổi ở Châu Á, Mỹ Latin, Trung và Đông Âu. Bằng cách sử dụng mô hình tự hồi quy vector (Vector Autoregressive Model) tác giả đã thấy rằng: hệ số truyền dẫn đến chỉ số giá CPI và nhập khẩu ở các quốc gia này cao hơn với những nước có nền kinh tế phát triển; Ở các nền kinh tế mới nổi có lạm phát ở mức một con số, hệ số truyền dẫn tới Chỉ số giá tiêu dùng CPI và nhập khẩu là khá thấp và cũng không giống như các quốc gia có nền kinh tế đã phát triển; Bài nghiên cứu cũng tìm ra được mối tương quan mạnh giữa tỷ giá hối đoái và lạm phát.
Như vậy do sự lựa chọn mẫu và thời điểm khác nhau, mà 2 bài nghiên cứu này có kết luận hoàn toàn ngược nhau về mối quan hệ tỷ giá hối đoái và lạm phát. Trong một bài nghiên cứu khác của Dubravko Mihaljek and Marc Klau: “A Note on the Pass-Through from Exchange Rate and Foreign Price Changes to Inflation in Selected Emerging Market Economies”Bài nghiên cứu ước tính truyền dẫn khi tỷ giá hối đoái thay đổi và giá nhập khẩu thay đổi đến các nền kinh tế mối nổi. Mẫu lựa chọn là một nhóm gồm 13 nền kinh tế mới nổi (Nam Phi, Brazil, Chile, Mexico, Peru, Cộng hòa Czech, Hungary, Phần Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Hàn Quốc, Malaysia, Philippines và Thaí Lan), trong giai đoạn từ thập niên 1980 đến năm 1990. Vì có sự 123doc 12 lựa chọn mẫu giống nhau, nên kết quả của bài nghiên cứu này có phần giống bài nghiên cứu của Elke Hahn và Marcelo Sánchez.
Bài nghiên cứu tìm ra những phần chính sau:(1) Thay đổi trong tỷ giá thì ảnh hưởng mạnh hơn và đồng thời cũng có mối tương quan với lạm phát hơn là những thay đổi về giá nhập khẩu. Ngoài ra còn có một số bằng chứng về thống kê cho thấy khi tỷ giá thay đổi tác động lên lạm phát và khi giá nhập khẩu thay đổi cũng tác động lên lạm phát ở một vài nước. (2) Kết quả chỉ ra rằng hiệu ứng truyền dẫn được ước tính bằng giá nhập khẩu tính bằng nội tệ do đó có thể nó không được thích hợp. Thay vào đó, có vẻ như cần thiết phải phân tích riêng biệt hai hiệu ứng truyền dẫn này.
(3) Các hiệu ứng truyền dẫn từ thay đổi tỷ giá vào lạm phát thì thông thường là mạnh hơn truyền dẫn từ giá nhập khẩu. Nhưng có một sự suy giảm đáng kể từ giữa những năm 1990, có lẽ là do kết quả của những điều kiện kinh tế vĩ mô ổn định và cải cách cơ cấu được thực hiện ở các nền kinh tế mới nổi. Cùng nghiên cứu về thị trường châu âu, chúng ta có thể tham khảo thêm 2 bài nghiên cứu của Hahn (2003) và Faruqee (2006): Hahn (2003): “Pass-Through of External Shocks To Euro Area Inflation”. Báo cáo này nghiên cứu tác động chuyển dịch của cú sốc bên ngoài, tức là cú sốc giá dầu, tỷ giá hối đoái và giá hàng hóa nhập khẩu phi dầu mỏ đến lạm phát khu vực sử dụng đồng Euro thông qua các bộ phận phân phối khác nhau (giá hàng nhập khẩu, giá sản xuất, giá tiêu dùng).
Phân tích dựa trên mô hình VAR, bao gồm dãy phân phối của giá (giá hàng nhập khẩu, sản xuất và tiêu dùng). Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy tác động chuyển dịch lớn nhất và nhanh nhất là cú sốc giá hàng nhập khẩu phi dầu mỏ, kế tiếp là cú tỷ giá hối đoái và c sốc giá dầu. Kích cỡ và độ lớn tác động chuyển dịch của những cú sốc giảm dần theo suốt dãy phân phối. Cú sốc bên ngoài giải thích phần lớn các biến trong các chỉ số giá và góp phần lớn hơn đến lạm phát trong khu vực Euro khi bắt đầu sử dụng đồng tiền chung Châu Âu.
Faruqee (2006): “Exchange Rate Pass-Through in the Euro Area” bài nghiên cứu đã sử dụng mô hình Var để phân tích hành vi theo thời gian của tỷ giá hối đoái và 123doc 13 hệ thống giả cả chịu ảnh hưởng bởi cú sốc tỷ giá. Một số kết luận được r t ra như sau: (1)Mức chuyển dịch tỷ giá trong ngắn hạn trong khu vực đồng EURO là thấp. Ví dụ như Hoa Kỳ, ảnh hưởng của việc tác động sú sốc tỷ giá trên các nhân tố: giá cả thương mại và giá cả bán buôn và bán lẻ là bằng không. (2)Mức chuyển dịch có khuynh hướng tăng theo thời gian trong khu vực đồng euro, mặc dù mức độ chuyển dịch của lương và giá cả tiêu dùng vẫn duy trì một khoảng cách tương đối là nhỏ.
Mức độ chuyển dịch trong sản xuất và giá hàng xuất khẩu có cao hơn nhưng mức độ cao nhất phản ánh trong khu vực đồng euro là giá cả nhập khẩu. (3)Mô hình của hiệu ứng chuyển dịch tỷ giá vào giá cả thương mại cho rằng sự khác nhau giữa công ty trong nước và nước ngoài về hành vi định giá trong khu vực đồng euro 2.3 Các nghiên cứu về sự truyền dẫn tỷ giá ở Việt Nam Cho đến nay, nghiên cứu định lượng về ERPT đến giá cả, lạm phát ở Việt Nam không nhiều, có một vài nghiên cứu chuyên sâu như: “Exchange Rate Pass-Through and Its Implications For Inflation in Vietnam” (2009) của tác giả Vo Van Minh; “Estimating the Exchange Rate Pass-Through into Inflation in Vietnam” của nhóm tác giả Tran Mai Anh và Nguyen Dinh Minh Anh. Bài nghiên cứu luận văn thạc sĩ: “Truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào các chỉ số giá tại Việt Nam giai đoạn 2001-2011” của Bạch Thị Phương Thảo Trong đó, bài viết của tác giả Võ Văn Minh được công bố toàn bộ trên Internet, nên sẽ được giới thiệu chi tiết hơn.08 trong năm đầu tiên và sẽ bị tác động sau 10 tháng khi xảy ra c shock về tỷ giá. Và trong vòng 15 tháng kẻ từ l c xảy ra c shock về tỷ giá thì sẽ không còn tác động đến Chỉ số giá tiều dùng CPI và giá nhập khẩu (import price).
Do việc tác động ERPT lên chỉ số giá tiêu dùng là khá thấp, 123doc 14 một sự linh hoạt hơn của cơ chế tỷ giá hối đoái ví dụ như cho phép sự biến động biên độ tỷ giá hối đoái lớn hơn được tác giả khuyến nghị Mặc dù vậy, ERPT bình quân trong năm thứ nhất là 0.08, thấp hơn kết quả đo lường của IMF năm 2003 là 0.25 trong năm thứ nhất. Có một số nguyên nhân giải thích cho những thay đổi này: Thứ nhất, chỉ số CPI bình quân trong giai đoạn 1995 – 2003 được sử dụng trong nghiên cứu của IMF là 5.9% trong giai đoạn 2001 – 2007. Giả thiết Taylor (2000) cho rằng môi trường lạm phát thấp hơn, nhìn chung, sẽ làm giảm ERPT. Do đó, lạm phát thấp hơn ở giai đoạn 2001- 2007 so với giai đoạn 1995-2003 có thể giai thích hiện tượng này.
Thứ hai, tình trạng đô la hóa thấp hơn trong giai đoạn 2001-2007 có thể là nhân tố khác giải thích sự sụt giảm ERPT. Thứ ba, việc tự do hóa lãi suất từ năm 2000 có thể làm giảm ERPT. Được thực hiện đầy đủ hơn khi đo lường sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến cả ba chỉ số giá IMP, PPI, CPI, tác giả Bạch Thị Phương Thảo (2011) đã tiếp tục sử dụng mô hình VAR đệ qui để kiểm định độ lớn tác động từ quí 1 năm 2001 đến quí 2 năm 2011 và đưa ra kết quả theo thứ tự tác động lớn nhất là IMP, tiếp đến là PPI và nhỏ nhất là CPI. Bài nghiên cứu cũng đưa ra một số kết quả như ERPT bình quân sau 1 năm là 0.16 và sự truyền dẫn đạt mức độ cao nhất là 0.39 sau 5 quý tức là sau 15 tháng sau khi có cú sốc tỷ giá hối đoái.
Chỉ số giá nhập khẩu và chỉ số giá tiêu dùng đều chịu ảnh hưởng từ cú sốc tỷ giá hối đoái với thời gian gần 24 tháng. Trần Mai Anh và Nguyễn Đình Minh Anh :Bằng công cụ VAR, cho kết quả ERPT bình quân đến giá nhập khẩu và giá tiêu dùng lần lượt là 0.065 trong 6 tháng đầu. Như vậy, các kết quả định lượng ERPT trên đều thấp một cách bất thường so với các kết quả nghiên cứu ERPT tại các nền kinh tế phát triển và mới nổi. Trong khi đó, về mặt lí thuyết và thực tiễn, Việt Nam có đủ các nhân tố để có một mức ERPT cao hơn: lạm phát, tỉ lệ nhập khẩu/GDP cao; đồng nội tệ kém ổn định; năng lực cạnh tranh nền kinh tế kém; mức độ đô la hóa nền kinh tế còn cao.Vì vậy, việc tiếp 123doc 15 tục nghiên cứu lượng hóa ERPT là điều nên làm, nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ , tỉ giá và nâng cao năng lực dự báo cũng như kiểm soát lạm phát.
Tuy nhiên mục tiêu của đề tài là đề cập đến việc dùng phương pháp phân rã phương sai để phân tích xem yếu tố nào có vai trò quan trọng ảnh hưởng đến lạm phát, tác giả xin điểm qua các kết luận rút ra từ các nghiên cứu về các yếu tố tác động đến lạm phát tại Việt Nam; Đồng thời qua các nghiên cứu này cũng muốn lưu ý đến vai trò của tỷ gía hối đoái đối với lạm phát.