Chương 1. Cơ sở lý luận về cơ chế truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào lạm phát. Thực trạng cơ chế truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào lạm phát tại Việt Nam. Giải pháp kiểm soát cơ chế truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào lạm phát tại Việt Nam.
123doc 1 Chƣơng 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀO LẠM PHÁT 1. Cơ sở lý luận về tỷ giá hối đoái1 1. Khái niệm về tỷ giá hối đoái Trong lĩnh vực tài chính, tỷ giá hối đoái (TGHĐ) của một cặp tiền tệ là một tỷ lệ mà tại đó nó xác định loại tiền tệ này sẽ đổi được bao nhiêu sang loại tiền tệ khác. Nó cũng được hiểu là giá trị tiền tệ của một quốc gia trong một khoảng thời gian xác định đo bằng tiền tệ của một quốc gia khác.
TGHĐ được xác định thông qua thị trường ngoại hối, thị trường này bao gồm rất nhiều người mua và bán, tại đây các loại tiền tệ được trao đổi liên tục 24h/ngày trừ các dịp cuối tuần. Trên thị trường ngoại hối, sự chênh lệch giữa tỷ giá mua và bán được xác định bởi những nhà cung cấp tiền tệ. Tỷ lệ chênh lệch được xem như một phần thặng dư cho người cung cấp, hoặc một khoản hoa hồng… Sự chênh lệch tỷ giá cũng khác biệt theo phương thức giao dịch: tiền mặt, phương tiện thanh toán giấy tờ (séc, thương phiếu…) hoặc thanh toán điện tử. Tỷ giá sẽ cao hơn khi bạn sử dụng các phương thức thanh toán thông qua giấy tờ vì việc này tốn kém thời gian, chi phí văn phòng hơn là thực hiện thanh toán bằng tiền mặt.
Phân loại tỷ giá hối đoái2 Trong nền kinh tế tồn tại nhiều loại TGHĐ như tỷ giá chính thức, tỷ giá của các ngân hàng thương mại, tỷ giá xuất khẩu… Dưới đây là một số loại tỷ giá phổ biến và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của một quốc gia: TGHĐ danh nghĩa: là TGHĐ được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng. TGHĐ này được xác định dựa trên Ngân hàng Trung ương (NHTW). TGHĐ thực (RER): TGHĐ thực của một cặp tiền tệ thể hiện sức mua của tiền tệ một nước so với tiền tệ nước khác. Chỉ số này phụ thuộc vào chỉ số khử lạm phát (GDP deflator) hoặc lạm phát tính theo chỉ số giá (CPI…) của từng nước, và năm 1 Tham khảo Wikipedia (2013), “Exchange rate” 2 Tham khảo Nhật Trung (2008) “Khả năng chịu đựng cán cân thâm hụt thương mại của Việt Nam” 123doc 2 cơ sở (tại đó TGHĐ thực bằng với TGHĐ danh nghĩa) được người tính xác định để bắt đầu theo dõi sự thay đổi của RER.
Sự thay đổi của RER thể hiện cho ta biết tương quan thay đổi sức mua của đồng nội tệ và ngoại tệ cùng một loại hàng hóa/một rổ hàng hóa theo thời gian.1)3 𝑃𝑑 En : TGHĐ danh nghĩa theo phương pháp yết giá trực tiếp Pf : Chỉ số giá nước ngoài. Pd : Chỉ số giá trong nước. Tỷ giá danh nghĩa hiệu lực đa phƣơng (NEER): được xác định như một chỉ số phản ảnh động thái của tỉ giá danh nghĩa giữa nước chủ nhà và các đối tác thương mại được điều chỉnh theo quyền số tương ứng của các đối tác thương mại. Chỉ số này cho ta cái nhìn chung về khả năng cạnh tranh nội tại của quốc gia đó 𝑘 𝑁𝐸𝐸𝑅 = 𝑖=1 𝑤𝑖𝑡 ∗ 𝐸𝑖𝑡 (1.2) Wit : Trọng số thương mại của nước i tại thời điểm t Eit : Tỷ giá danh nghĩa của đồng tiền trong nước so với nước i thời điểm t Tỷ giá thực hiệu lực đa phƣơng (REER): là sản phẩm của tỉ giá hiệu lực danh nghĩa đa phương (NEER) và chỉ số giá tương đối.3) 𝑑𝑡 NEERit : TGHĐ danh nghĩa đa phương của đồng tiền trong nước so với đồng tiền nước i tại thời điểm t Pit : Chí số giá nước i tại thời điểm t Pdt : Chỉ số giá trong nước tại thời điểm t 3 Các công thức từ 1.3 tham khảo tại N.
Watchel, 1998,Current Account Sustainability in Transition Economies,NBER Working Paper Series 123doc 3 1. Các yếu tố vĩ mô tác động đến tỷ giá hối đoái4 Hiện nay TGHĐ của các nước chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố: tỷ lệ lạm phát, tình hình cán cân thanh toán, tình hình cung cầu ngoại tệ, lãi suất ngân hàng, chính sách kinh tế, kể cả các sự kiện chính trị xã hội… 1. Cán cân thanh toán quốc tế Cán cân thanh toán quốc tế phản ánh tình hình thu chi thực tế bằng ngoại tệ của một nước so với nước khác trong quan hệ giao dịch quốc tế. Cán cân thanh toán quốc tế thể hiện vị thế tài chính của quốc gia thâm hụt hoặc thặng dư.
Nếu cán cân thanh toán thường xuyên thâm hụt thì dự trữ ngoại hối của quốc gia có thể giảm, tình hình ngoại tệ căng thẳng, từ đó tạo ra nhu cầu ngoại tệ tăng lên, giá ngoại tệ tăng. Nếu cán cân thanh toán thặng dư dự trữ ngoại hối có thể tăng, cung ngoại tệ trên thị trường tăng, giá ngoại tệ có khuynh hướng giảm. Lạm phát Là sự suy giảm sức mua của nội tệ. Để chứng minh mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ giá, Gustav Cassel đã đưa ra lý thuyết ngang giá sức mua.
Theo lý thuyết này, giả thiết trong một nền kinh tế cạnh tranh hoàn hảo, cước phí vận chuyển, thuế hải quan được giả định bằng không. Nếu các hàng hóa đều đồng nhất thì người tiêu dùng sẽ mua hàng của nước có giá thật sự thấp. Cũng theo giả thiết đó, một kiện hàng X ở Cananda giá 150 CAD và cũng kiện hàng X đó ở Mỹ giá 100 USD thì TGHĐ sẽ chuyển đến mức là 𝑈𝑆𝐷 150 𝐶𝐴𝐷 = = 1,5000 𝐶𝐴𝐷 100 𝑈𝑆𝐷 Vì vậy, nếu cuối năm lạm phát xảy ra tại các nước này thì tỷ giá sẽ thay đổi, vì giá cả không còn là 150 CAD hay 100 USD nữa. Khi đó tỷ giá cuối kỳ sẽ là (1 + 𝐿𝑃𝑏 ) 𝑇𝐶𝑘 = 𝑇𝐷𝑘 𝑥 (1 + 𝐿𝑃𝑎) 4 Tham khảo Trần Hoàng Ngân (2008) “Hối đoái” 123doc 4 Trong đó: TDk là tỷ giá đầu kỳ TCl là tỷ giá cuối kỳ LPa là lạm phát tại quốc gia sử dụng đồng tiền A LPb là lạm phát tại quốc gia sử dụng đồng tiền B 1.
Lãi suất Phần lớn các nhà đầu tư với quy mô lớn trên thị trường như các tập đoàn, các công ty đa quốc gia có thể chuyển đổi đầu tư dễ dàng giữa các đồng tiền khác nhau khi tỷ giá và lãi suất của các đồng tiền có chiều hướng thay đổi. Vấn đề quan trọng được đặt ra là cần phải so sánh thu nhập đầu tư từ các đồng tiền khác nhau để có thể chắc chắn rằng họ có thể thu được kết quả đầu tư tốt nhất. Thông thường, các nhà đầu tư có xu hướng đầu tư vào đồng tiền có lãi suất cao, được thực hiện bằng cách khá phổ biến là đi vay đồng tiền có lãi suất thấp chuyển đổi sang đồng tiền có lãi suất cao, sau đó đầu tư đồng tiền lãi suất cao bằng nhiều hình thức nhằm hưởng lợi nhuận do chênh lệch lãi suất của hai đồng tiền. Thực tế, thông thường đồng tiền có lãi suất cao có khuynh hướng lên giá, bởi vì sẽ có nhiều nhà đầu tư mua đồng tiền có lãi suất cao để cho vay nhằm thu lãi nhiều hơn.
Một số nhân tố khác Sự điều chỉnh chính sách tài chính tiền tệ, các sự kiện kinh tế, xã hội, chiến tranh, thiên tai, sự biến động của các chỉ số thống kê về việc làm, thất nghiệp, tăng trưởng kinh tế… Tóm lại những biến động của các nhân tố nêu trên có thể tạo ra những tác động riêng lẻ hoặc đồng thời lên cung cầu ngoại tệ, từ đó tác động đến tỷ giá. Các chế độ tỷ giá5 Mỗi quốc gia thông qua nhiều cách thức khác nhau có thể kiểm soát TGHĐ của nước mình nhằm phục vụ cho các mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn, cách thức mà các quốc gia quản lý TGHĐ của đồng tiền nước mình được gọi là chế độ tỷ giá. Có 5 Tham khảon Trần Ngọc Thơ – Nguyễn Ngọc Định (2008) “Tác động của Chính phủ đối với tỷ giá” 123doc 5 nhiều chế độ tỷ giá được áp dụng: chế độ TGHĐ thả nổi, chế độ TGHĐ cố định, chế độ TGHĐ trung gian… Chế độ TGHĐ thả nổi: tỷ giá của quốc gia sẽ thường xuyên thay đổi và được xác định do các áp lực cung cầu trên thị trường ngoại hối quốc tế. Đi cùng với các ưu điểm là tấm đệm ngăn chặn các cú sốc kinh tế ảnh hưởng đến nền kinh tế nội địa, tạo sự độc lập trong chính sách tiền tệ của NHTW, thì khi một quốc gia áp dụng chế độ TGHĐ thả nổi cũng mang lại cho quốc gia nhiều thách thức như sự bất ổn định trong tỷ giá gây mất lòng tin cho người dân, các nhà đầu tư, tạo thêm gánh nặng cho quốc gia khi nền kinh tế của quốc gia đó gặp khó khăn… Chế độ TGHĐ cố định: tỷ giá của đồng tiền quốc gia đó sẽ được giữ nguyên không thay đổi trong khoảng thời gian áp dụng chế độ tỷ giá trên.
Đồng thời, khi áp dụng chế độ tỷ giá này quốc gia sẽ phải gánh chịu một số rủi ro từ những cú sốc kinh tế chẳng hạn như các cú số về giá. Tuy nhiên kèm theo đó chế độ TGHĐ cố định cũng có những ưu điểm nhất định như tạo được lòng tin cho doanh nghiệp, và dân cư về sự ổn định của tỷ giá, thu hút đầu tư nước ngoài. Chế độ TGHĐ trung gian: đây là chế độ tỷ giá trung gian giữa cố định và thả nổi trong chế độ trung gian này tùy theo từng quốc gia mà có thể gồm rất nhiều biến thể, mỗi quốc gia có thể “thêm bớt” một số yếu tố để tạo nên chế độ tỷ giá phù hợp với mục tiêu của mình. Dưới đây tác giả xin nêu ra một số chế độ tỷ giá phổ biến thường được các quốc gia áp dụng.
Chế độ neo tỷ giá: Theo đó các quốc gia sẽ neo đồng tiền của mình vào một loại ngoại tệ mạnh nào đó, thường là USD. Trong hệ thống này, quốc gia sẽ ấn định một mức ngang giá chung cho đồng tiền của nước mình, và chỉ cho phép những thay đổi nhỏ xoay quanh mức ngang giá này.