chương 1 sẽ được tìm thấy. 123doc 6 CHƢƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VỀ TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM Tỷ giá hối đoái là một trong những biến số quan trọng của nền kinh tế. Tỷ giá hối đoái có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế thông qua nhiều kênh truyền dẫn khác nhau như thương mại, giá cả và ngân sách. Một trong những ảnh hưởng quan trọng nhất của nó là tác động đến lạm phát.
Do đó, nghiên cứu mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và lạm phát luôn là trọng tâm của các bài nghiên cứu về truyền dẫn. Tầm quan trọng của truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào giá đã được đề cập khá nhiều ở nhiều bài nghiên cứu trước ở một số quốc gia. Theo đó, các bài nghiên cứu tập trung trả lời cho câu hỏi tỷ giá hối đoái ảnh hưởng như thế nào đến giá cả, yếu tố nào là nhân tố chính gây nên lạm phát trong thời kỳ này, đồng thời đo lường mức độ truyền dẫn cú sốc tỷ giá hối đoái đến giá cả trong nước thông qua hệ số truyền dẫn. Nhìn chung, truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào giá có hai vai trò chính là giúp dự báo khả năng lạm phát và ngụ ý trong điều hành chính sách tiền tệ, điều mà bất kỳ NHTW nào cũng cần trong việc điều hành chính sách tiền tệ của mình.
Hiểu biết và đánh giá tốt truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào giá giúp NHTW có thể biết được ảnh hưởng, mức độ, thời gian của cú sốc tỷ giá đến lạm phát. Do đó, NHTW, đặc biệt là trong giai đoạn kiểm soát lạm phát là mục tiêu hàng đầu, có thể đáp ứng kịp thời các cú sốc với chính sách tiền tệ thích hợp để đạt được mục tiêu. Theo Campa& Goldberg (2002) một mức độ truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào giá thấp ngụ ý chi phí chuyển đổi trong chính sách tiền tệ trong nước là thấp và chính sách tiền tệ thì hiệu quả khi đối phó với những cú sốc thực. Trong trường hợp này, NHTW ít quan tâm đến vấn đề tỷ giá hơn để tập trung cho các mục tiêu khác như tăng trưởng kinh tế hay gia tăng khả năng cạnh tranh xuất khẩu.
Mặt khác chính sách tiền tệ sẽ bị ảnh hưởng khi mức độ truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào giá cao khi quốc gia đó theo đuổi mục tiêu ổn định chính sách tiền tệ. Sau đây, bài nghiên cứu sẽ trình bày một số khái niệm cũng như những lý thuyết nền tảng về “truyền dẫn tỷ giá hối đoái”.1 Khái niệm "truyền dẫn tỷ giá hối đoái". Việt Nam nằm trong nhóm nước đang phát triển nên nghiên cứu này sẽ định nghĩa khái niệm truyền dẫn tỷ giá hối đoái theo cách tương tự như các nghiên cứu thực hiện tại các nước đang phát triển tức “truyền dẫn tỷ giá hối đoái là phần trăm thay đổi của các chỉ số giá trong nước khi tỷ giá hối đoái danh nghĩa thay đổi một phần trăm”. Các chỉ số giá trong nước bao gồm chỉ số giá nhập khẩu, chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá tiêu dùng.
Nếu tỉ giá hối đoái thay đổi 1% khiến cho giá cả thay đổi 1% thì sự truyền dẫn được gọi là “hoàn toàn” (complete pass-through), và nếu nhỏ hơn 1% thì sẽ được gọi là sự truyền dẫn “không hoàn toàn” (incomplete pass-through). Theo Hakan Kara (2005) sở dĩ có sự khác nhau như trên là vì các nước đang phát triển thường được xem là các nền kinh tế mở và qui mô nhỏ nên quyền áp đặt giá trên thị trường là rất hạn chế. Điều đó có nghĩa biến động tỷ giá hối đoái được cho là sẽ tác động mạnh đến giá hàng hóa nhập khẩu, khiến các chỉ số giá trong nước trở nên rất nhạy cảm đối với sự thay đổi của tỷ giá hối đoái danh nghĩa.2 Các lý thuyết cơ bản tiếp cận giải thích sự hình thành và biến động tỷ giá.1 Lý thuyết ngang giá sức mua (The Purchasing Power Parity Theory – PPP). Trước đây, các mô hình xác định tỷ giá đều dựa vào sự luân chuyển tiền để xác định tỷ giá (Phương pháp dòng tiền – Flow Approach).
Ngoại tệ được đề cập đến dưới vai trò trung gian trao đổi chứ không phải là một phương tiện cất giữ, vào thời điểm này, cung và cầu ngoại tệ xác định tỷ giá hối đoái. Tỷ giá là kết quả của sự di chuyển dòng cung và dòng cầu về hàng hoá và dịch vụ. Một sự gia tăng dòng cầu hàng hoá nước ngoài sẽ làm đồng nội tệ giảm giá và ngược lại. Đây là cơ chế hình thành “Lý thuyết ngang giá sức mua”.
Xét về tổng thể, lý thuyết này cho thấy khi có sự gia tăng năng lực sản xuất trong nước sẽ làm tăng giá trị đồng nội tệ so với ngoại tệ. Một sự thay đổi trong công nghệ, thị hiếu, chính sách thương mại hoặc lực lượng lao động sẽ làm thay đổi năng lực sản xuất của một quốc gia và điều này làm thay đổi tỷ giá. Bên cạnh đó cũng có những yếu tố nhất thời tác động đến PPP chẳng hạn như những biến động 123doc 8 trong thị trường hàng hoá và tiền tệ. Trong ngắn hạn giá cả hàng hoá có thể có những đột biến, mức lương được xác định bởi hợp đồng lao động và có hiệu lực trong một khoảng thời gian xác định.
Do vậy lương được xem là ít co giãn trong ngắn hạn. Ngoài ra, dòng chu chuyển vốn còn chịu sự tác động bởi sự phân kỳ trong chính sách tài khoá và tiền tệ. Vì vậy, trong một vài trường hợp PPP có độ lệch lớn.2 Lý thuyết ngang giá lãi suất (The Interest Rate Parity – IRP). Lý thuyết ngang giá lãi suất được xây dựng dựa trên phương pháp tài sản (Stock Approach hoặc Asset model approach), đây là một phương pháp tập trung vào tiền tệ - một loại tài sản bền vững, có thể hoán chuyển nhưng không bị hư hỏng như các tài sản khác.
Chẳng hạn, nếu cầu ngoại tệ không đổi, cung ngoại tệ tăng lên do thu nhập của các nhà đầu tư hoặc lợi nhuận kỳ vọng tăng lên sẽ làm cho ngoại tệ tăng giá tương đối so với nội tệ. IRP giả định sự chu chuyển vốn là tự do (bỏ qua chi phí giao dịch, thuế) và sự chu chuyển vốn là hoàn hảo, rủi ro quốc gia là như nhau. Ngay khi các áp lực thị trường làm cho lãi suất và tỷ giá thay đổi thì hoạt động kinh doanh chêch lệch lãi suất phòng ngừa không còn khả thi, thì thị trường sẽ ở trạng thái cân bằng gọi là ngang giá lãi suất (IRP). Trong thế cân bằng này, sự khác nhau giữa tỷ giá kỳ hạn và tỷ giá giao ngay giữa hai đồng tiền được bù đắp đúng bằng chênh lệch lãi suất giữa hai nước đó.3 Nguyên tắc Taylor.
Năm 1993, nhà nghiên cứu John B. Taylor, Giáo sư Đại học Stanford (Mỹ) đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm đối với chính sách lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Federal Reserve - FED) trong vòng một thập niên trong giai đoạn 1980- 1990 và phát hiện ra rằng biến động lãi suất điều hành của FED tuân thủ theo một nguyên tắc nhất định trong mối tương quan với lạm phát và tăng trưởng kinh tế. Từ quan sát trên, Taylor đã mở rộng nghiên cứu và khái quát hóa thành một nguyên tắc điều hành lãi suất của NHTW gọi là “nguyên tắc Taylor” (the Taylor Rule - TR). Theo TR, lãi suất điều hành cần điều chỉnh phù hợp với thay đổi của chênh lệch sản lượng (output gap - chênh lệch giữa GDP tiềm năng và GDP thực tế trong một thời kỳ) và chênh lệch lạm phát (chênh lệch giữa mức lạm phát thực tế và mức 123doc 9 lạm phát mục tiêu) trong nền kinh tế.
TR được biểu hiện bằng hàm phản ứng chính sách (reaction function) sau: it = t + rt* + a ( t - t* ) + a y ( yt - yt* ) Trong đó: it là lãi suất điều hành của NHTW theo TR; t là tỷ lệ lạm phát tính theo chỉ số GDP deflator (Chỉ số giảm phát GDP, phản ánh mức độ thay đổi của giá cả dựa trên việc so sánh giữa GDP tính theo giá cả hiện hành và GDP tính theo giá cả của năm được so sánh); t* là tỷ lệ lạm phát mục tiêu; rt* lãi suất thực cân bằng giả định; a và a y là các tham số phản ứng chính sách (reaction parameters) hay trọng số đối với tăng trưởng và lạm phát; yt tăng trưởng GDP; yt* tăng trưởng GDP tiềm năng. Theo Nguyễn Đức Phong, Lê Quang Long trong Tạp chí Ngân hàng số 23 (2012), nguyên tắc Taylor trong điều hành kinh tế tiền tệ, đề cập tới từ nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn có thể thấy TR là một nguyên tắc tương đối đơn giản để đánh giá CSTT thông qua các phản ứng chính sách có hệ thống đối với các thông tin về thực trạng kinh tế trong tương lai. Nó nhấn mạnh CSTT cần được xem xét, điều chỉnh thường xuyên liên tục. Tại các nước, TR được áp dụng ở mức độ khác nhau với vai trò bổ trợ cho các mô hình đánh giá CSTT tổng quan, nhất là tại các nước mới nổi với đặc trưng CSTT đặt mục tiêu tỷ giá.
Về mặt học thuật, TR đã và đang được sử dụng tương đối hiệu quả trong việc kiểm nghiệm việc điều hành CSTT tại nhiều quốc gia phát triển, theo khuôn khổ lạm phát mục tiêu. Từ thực tiễn điều hành tại các NHTW cũng như quan điểm của các nhà nghiên cứu, có thể thấy TR là một công cụ tốt để phân tích CSTT, có khả năng đóng góp tích cực vào việc nâng cao tính minh bạch, khả năng giải trình của NHTW.4 Lý thuyết mệnh giá tiền tệ (denomination currency) Trong khi tỷ giá hối đoái đơn giản là giá của một đồng tiền (currency) so với đồng tiền khác. Nếu chi phí 100 yên mua được 1 đôla, thì tỷ lệ trao đổi yên-đôla là 100. Ngược lại, tỷ lệ trao đổi đôla-yên là 0,01.
Nếu tỷ lệ trao đổi yên-đôla sau đó giảm xuống còn 90, điều này có nghĩa là đôla đã giảm giá (và yên lên giá), vì bây giờ cần phải có nhiều đôla hơn để mua một yên (và ít yên hơn để mua mộ Khi tỷ giá hối đoái của một quốc gia giảm giá, người nước ngoài sẽ thấy rẻ hơn khi mua đồng tiền của nước đó, và có thể dẫn đến việc họ cũng có thể mua được nhiều hơn hàng hoá của nước này.Vì lý do này mà một tỷ giá giảm giá (ở đây có thể hiểu là đồng tiền nước này giảm giá) thường được xem như mang lại thuận lợi cho xuất khẩu của một quốc gia. Tuy nhiên, không có gì là miễn phí.