Chương i: tổng quan chung về hệ thống tỷ giá hối đoái i. tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái là gì? Về hình thức, (tỷ giá hối đoái) TGHĐ là giá cả đơn vị tiền tệ của một nước được biểu hiện bằng một số đơn vị tiền tệ nước kia; là hệ số của một đồng tiền này sang đồng tiền khác và được xác định bởi mối quan hệ cung-cầu trên thị trường tiền tệ. Về nội dung, TGHĐ là một phạm trù kinh tế bắt nguồn từ nhu cầu trao đổi hàng hoá, dịch vụ, phát sinh trực tiếp từ tiền tệ, quan hệ tiền tệ (sự vận động của vốn, tín dụng.) giữa các quốc gia.
Tỷ giá đồng Yên Nhật và của đôla Mỹ so với đồng Việt Nam ngày 05/09/ 2001 như sau: 1 USD = 119,83 JPY. Như vậy, TGHĐ thể hiện quan hệ về giá trị tiền tệ giữa hai đồng tiền khác nhau. Các loại tỷ giá hối đoái. TGHĐ giao ngay và TGHĐ kỳ hạn (Spot and Forward Rate).
TGHĐ giao ngay là tỷ giá yết cho những giao dịch thực tế diễn ra tại thời điểm yết giá và việc thanh toán được thực hiện chậm nhất sau 2 ngày. Ví dụ: tỷ giá giao ngay USD/VND là 15.000 vào ngày 05/10/2001 áp dụng cho các giao dịch ngoại tệ trong ngày và việc thanh toán được thực hiện chậm nhất vào ngày 07/10/2001. TGHĐ kỳ hạn là tỷ giá ấn định cho một giao dịch ngoại tệ sẽ diễn ra trong tương lai. Ví dụ: Tỷ giá giao ngay USD/VND là 14.
Tỷ giá kỳ hạn 30 ngày ấn định ngày hôm đó là 14.990 nhưng được tiến hành thanh toán vào 30 + 2 ngày sau tức ngày 07/10/2001. Tỷ giá kỳ hạn thường có sự chênh lệch với tỷ giá giao ngay. Mức chênh lệch này phản ánh dự đoán của thị trường về xu thế biến động tỷ giá. Tỷ giá hối đoái danh nghĩa và tỷ giá hối đoái thực tế.
ở nhiều nước, (Ngân hàng trung ương) NHTW can thiệp vào việc xác định TGHĐ và ấn định mức tỷ giá giao dịch hàng ngày. Tỷ giá đó được gọi là tỷ giá danh nghĩa. Tuy nhiên, các giao dịch thực tế trên thị trường có thể dựa trên một tỷ giá khác được xác định trên cơ sở cung-cầu trên thị trường. Tỷ giá đó gọi là TGHĐ trên thị trường.
TGHĐ danh nghĩa là tỷ giá do NHTW công bố và ấn định, còn TGHĐ thị trường là tỷ giá giao dịch thực tế trên thị trường. TGHĐ yết trực tiếp và TGHĐ yết gián tiếp. TGHĐ yết trực tiếp là tỷ giá được yết trên cơ sở tính giá trị một đơn vị nội tệ theo ngoại tệ. Hình thức yết giá này thường được sử dụng ở Anh-Mỹ nên còn được gọi là yết giá kiểu Anh-Mỹ.
Tỷ giá này được ký hiệu là e. Ví dụ: Tại Anh người ta yết GBP/USD = 1,6669 còn tại Mỹ người ta yết USD/GBP = 0,5999. TGHĐ yết gián tiếp là tỷ giá được yết trên cơ sở tính giá trị một đơn vị ngoại tệ theo nội tệ. Tỷ giá này được ký hiệu là E.
Ví dụ: Tại Việt Nam ta yết USD/VND = 14. (Nếu yết giá trực tiếp sẽ là: VND/USD = 1/14. Tỷ giá hối đoái tính chéo (Cross Rate). Trên thực tế, không phải tỷ giá giữa 2 đồng tiền nào cũng được yết giá trên thị trường ngoại tệ và thị trường hối đoái mà chủ yếu là tỷ giá của các đồng tiền với các đồng tiền mạnh (hard curency) như USD, GBP, FRF, JPY, DEM.
tỷ giá giữa các đồng tiền yếu (soft curency) thường không được yết giá do tính kém chuyển đổi (inconvertibility) của chúng. Tuy nhiên trong thực tế, đôi khi người ta lại cần tính toán tỷ giá giữa các đồng tiền này, chẳng hạn giữa đồng Bath và đồng Việt Nam. Khi đó người ta sử dụng tỷ giá tính chéo. Tỷ giá tính chéo giữa 2 đồng tiền được xác định dựa trên cơ sở so sánh tỷ giá của chúng với một đồng tiền thứ 3 (thường là một đồng tiền mạnh).
Chẳng hạn nếu: USD/VND = 14.890 và USD/Bath = 40 thì tỷ giá tính chéo Bath/VND = 14. Ngoài những khái niệm trên, còn có một số loại tỷ giá khác như tỷ giá mua, tỷ giá bán, tỷ giá Big-Mac. Phương pháp xác định tỷ giá hối đoái. Qua việc xác định trên, khi trình bày các khái niệm về TGHĐ, chúng ta có thể để ý thấy rằng có nhiều loại TGHĐ khác nhau cũng như giá trị của chúng cũng có thể không giống nhau.
Và có thể ta cũng sẽ băn khoăn là tại sao và làm thế nào các NHTW lại ấn định tỷ giá chính thức? Thị trường quyết định tỷ giá giao ngay và tỷ giá kỳ hạn như thế nào? Tại sao tỷ giá USD/VND ngày 05/09/2001 lại là 14.950 chứ không phải 11.000? Làm sao để xác định tỷ giá trao đổi giữa 2 loại tiền tệ? Trên thực tế người ta đã từng dùng nhiều phương pháp để xác định tỷ giá.Ngang giá vàng. Để hiểu về ngang giá vàng, trước hết chúng ta cần nhớ lại rằng trước kia phương tiện trao đổi và thanh toán chính là vàng, lúc đầu là vàng thỏi (bullion), sau là tiền vàng đúc. Sau đó, tiền giấy ra đời thay thế cho vàng song vẫn được gắn giá trị vào vàng. Đó là chế độ bản vị tiền vàng (Gold Standard).
Ví dụ: 1 USD = 0,888671 gram vàng, trong khi 1 GBP = 2,488281 gram vàng. Người ta đã lợi dụng ngay đặc điểm gắn giá trị của các đồng tiền vào vàng để xác định TGHĐ. Ngang giá vàng (gold parity) là phương pháp xác định TGHĐ dựa trên cơ sở so sánh hàm lượng vàng của đơn vị tiền tệ mỗi nước. Giả định ta có hai loại đồng tiền là A và B.
Tỷ giá này được xác định theo công thức sau: Hàm lượng vàng trong 1 đơn vị tiền A TGHĐ(Đồng A/ Đồng B)= Hàm lượng vàng trong 1 đơn vị tiền B Như vậy, với ví dụ trên thì tỷ giá GBP/USD = 2,488281/0,888671=2,8. Ngày nay, phương pháp tính tỷ giá này ít được áp dụng. Đồng giá lãi suất (Interest Parity). Để hiểu phương pháp đồng giá lãi suất, trước hết chúng ta hãy xem xét ví dụ về 2 đồng tiền: D (nội tệ) và F (ngoại tệ); E, F lần lượt là tỷ giá giao ngay và tỷ giá kỳ hạn giữa 2 đồng tiền.
RD và RF lần lượt là lãi suất (theo năm) của 2 đồng tiền. Nếu bắt đầu bằng 1 đồng D thì chúng ta sẽ có 2 phương án: - Phương án 1: + Gửi 1 đơn vị đồng tiền D lấy lãi sau 1 năm thu được (1+ RD)xD đồng tiền D. - Phương án 2: + Chuyển tiền D sang đồng tiền F theo tỷ giá giao ngay E được (1xE)xD đồng tiền F. + Gửi lấy lãi (1xE) đồng tiền F sau 1 năm thu được E(1+ RF) đồng tiền F.
+ Chuyển E(1+ RF) đồng tiền F sang đồng tiền D theo tỷ giá kỳ hạn F được E(1+ RF)xF Dđồng tiền D. Nếu E(1+ RF)xF D > (1+ RD) thì rõ ràng gửi tiền bằng tiền F có lãi hơn. Do số người muốn gửi tiền bằng đồng F tăng lên, lãi suất sẽ giảm xuống để cân đối nguồn vốn. Chỉ đến khi E(1+ RF)xFD < (1+ RD) thì gửi tiền bằng đồng tiền D có lợi hơn và gây ra làn sóng chuyển từ đồng F sang đồng D gửi lấy lãi.
Tương tự, dòng di chuyển này chỉ dừng lại khi lãi suất của hai phương án cân bằng. Điều kiện này gọi là điều kiện ngang giá tiền lãi. Nó cho rằng trong điều kiện các nguồn vốn được chu chuyển tự do, lãi suất được hình thành trên cơ sở cung-cầu thị trường và bỏ qua các chi phí giao dịch thì lãi suất ở mọi nơi trên thế giới đều như nhau. Từ đó, người ta xây dựng phương pháp đồng giá lãi suất để xác định TGHĐ trên cơ sở cho rằng tỷ giá phải được xác định để đảm bảo sự đúng đắn của quy luật đồng giá lãi suất.
Khi đó, tỷ giá được xác định bởi công thức: 1 + RD E - Eo RD - RF E = Eo x hay = 1 + RF Eo 1 + RF Trong đó: E là tỷ giá tại thời điểm nghiên cứu (cần tính). Eo là tỷ giá tại thời điểm gốc. Từ công thức trên ta cũng thấy biến động tỷ giá phụ thuộc vào tương quan lãi suất giữa hai đồng tiền. Vì tỷ giá có thể biến động ngay khi có sự thay đổi lãi suất, xác định tỷ giá theo đồng giá lãi suất được xem là cách xác định TGHĐ ngắn hạn.
Quy luật một giá và thuyết đồng giá sức mua. Tương tự như đối với đồng giá lãi suất, để hiểu quy luật một giá chúng ta hãy xem xét giá cả của một mặt hàng là gạo ở 2 quốc gia có 2 đồng tiền lần lượt là D và F. Giá gạo tính bằng 2 đồng tiền lần lượt là PD và PF. Tỷ giá F/D là E.
Nếu căn cứ vào đồng tiền D, bạn có 2 phương án chọn: - Phương án 1: Mua 1 kg gạo bằng đồng D hết PD. - Phương án 2: Mua 1 kg gạo bằng đồng F hết PF tức là phải bỏ ra (PFxE) đồng tiền D. Nếu (PFxE) < PD, mua gạo bằng đồng F sẽ rẻ hơn. Các nhà buôn lập tức đổ xô vào mua gạo tại nước F.
Kết quả, giá gạo F tăng lên cho đến khi (PFxE) = PD. Ngược lại nếu (PFxE) > PD, mua gạo bằng đồng D sẽ có lợi, các nhà buôn lập tức chuyển sang mua gạo ở nước D đẩy giá gạo ở đây lên đến khi (PFxE) = PD. Nói tóm lại, do hoạt động kinh doanh của các nhà buôn, giá gạo tương đối tại hai quốc gia sẽ luôn cân bằng. Đó cũng là nội dung quy luật 1 giá.
Quy luật này phát biểu rằng trên các thị trường cạnh tranh hoàn hảo, không có các chi phí giao dịch và vận tải, gia cả tương đối (giá tính theo cùng một loại tiền tệ) là như nhau đối với mọi loại hàng hoá giống nhau, bất kể chúng được sản xuất ở nước nào. Do đó, nếu giá gạo ở 2 nước là PD và PF thì tỷ giá hối đoái E phải được xác định bằng: E = PD / PF để đảm bảo quy luật 1 giá đúng với gạo. Dựa trên cách tiếp cận của quy luật 1 giá, Ricardo và nhiều nhà kinh tế đã đưa ra lý thuyết đồng giá sức mua (Purchasing Power Parity). Lý thuyết này phát biểu rằng, tỷ giá hối đoái giữa 2 đồng tiền bằng tỷ số giữa các mức giá của giá hàng hoá 2 nước.