Chương I: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về chính sách tỷ giá hối đoái Chương II: Phương pháp nghiên cứu Chương III: Thực trạng điều hành chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2000-2016 Chương IV: Một số hàm ý cho Việt Nam 4 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Tỷ giá và những chính sách liên quan là vấn đề khó khăn, phức tạp, và phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể của các quốc gia trong từng thời kỳ nhất định. Nghiên cứu về tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái Nhiều nghiên cứu về chính sách tỷ giá, trong đó, Paul R. Krugman và Maurice Obstfeld (1996) đã cung cấp nền tảng lý thuyết cơ bản cho việc hình thành phương pháp luận nghiên cứu về tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái.
Các giáo trình được giảng dạy ở các trường đại học trong và ngoài nước của nhiều tác giả nước điển hình như Dominick Salvatore (1998), Lucio Sarno And Mark P. Taylor (2003), Ronald MacDonald (2007), Lê Văn Tư và Nguyễn Quốc Khanh (2004), Trần Ngọc Thơ và Nguyễn Ngọc Định (2005), Nguyễn Thị Phương Liên (2010), Nguyễn Văn Tiến (2011), các nghiên cứu khoa học như đề tài nghiên cứu các cấp, bài báo khoa học của các trường đại học trên toàn thế giới với các bằng chứng thực nghiệm rõ ràng, đề cập sâu đến các nội dung lý thuyết liên quan đến tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái. Nghiên cứu về cơ chế tỷ giá và lựa chọn chính sách tỷ giá hối đoái Nghiên cứu của IMF(1997), World Economic Outlook, chỉ ra thực tế kể từ cuối những năm 1970 có một sự sụt giảm đáng kể số lượng các nước đang phát triển duy trì một số dạng nào đó của cơ chế tỷ giá neo giữ và gia tăng số lượng lớn các nước theo đuổi cơ chế tỷ giá linh hoạt hơn. Caramazza và Aziz (1998) cho thấy 87% các nước đang phát triển có cơ chế tỷ giá cố định vào năm 1975 nhưng tỷ lệ đó giảm xuống còn dưới 50% vào năm 1996; trong những năm 1990 và từ đó, nhiều quốc gia lựa chọn cơ 5 z chế tỷ giá linh hoạt hơn là cơ chế tỷ giá hối đoái cố định.
Các nghiên cứu này nhấn mạnh xu hướng tiến tới cơ chế tỷ giá linh hoạt của các nước đang phát triển. Nhấn mạnh được mối quan hệ liên quan giữa cơ chế tỷ giá hối đoái liên quan đến các biến số kinh tế, Rizzo (1998) khẳng định quy mô, mức độ phát triển nền kinh tế, mức độ mở cửa, sự đa dạng hóa địa lý của hoạt động ngoại thương có ý nghĩa trong việc giải thích sự lựa chọn cơ chế tỷ giá, cụ thểnghiên cứu các nước đang phát triển trong giai đoạn 1977-1995. Theo Frankel (1999), không có một chính sách tỷ giá duy nhất cho tất cả các quốc gia cũng như không thể chỉ áp dụng một cơ chế tỷ giá cho mọi thời kỳ của một nền kinh tế. Việc lựa chọn cơ chế tỷ giá còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế trong nước và vào khả năng quản trị hệ thống tài chính ngân hàng của quốc gia đó.
Ngoài ra, việc lựa chọn chính sách tỷ giá của một quốc gia còn cần phải quan tâm xem liệu quốc gia đó có thể duy trì được các mục tiêu đề ra khi tuyên bố áp dụng chính sách tỷ giá đó như đã hứa hay không. Ilker và Maria (2000) của Ngân hàng Thế giới, dựa trên thực nghiệm cũng đã tìm ra mối liên hệ giữa khủng hoảng ngân hàng và tỷ giá hối đoái, họ đã sử dụng dữ liệu toàn diện gồm cả các nước đã và đang phát triển trong 2 thập kỷ gần đây. Họ cho rằng áp dụng tỷ giá hối đoái cố định sẽ làm giảm nguy cơ khủng hoảng ngân hàng ở các nước đang phát triển. Tuy nhiên, một khi khủng hoảng xảy ra các quốc gia có tỷ giá hối đoái cố định chịu tổn thất lớn hơn các quốc gia có tỷ giá hối đoái linh hoạt.
Những phát hiện gần đây cho thấy một quốc gia càng trưởng thành theo nghĩa hội nhập vào thị trường vốn quốc tế và phát triển hệ thống tài chính lành mạnh, càng nên lựa chọn tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn. Levy-Yeyati và Federico Sturzenegger (2003): “Chúng ta nghiên cứu mối liên hệ giữa tỷ giá hối đoái và phát triển kinh tế qua thí dụ của 183 nước 6 z giai đoạn hậu Bretton Woods, sử dụng cách phân loại tỷ giá hối đoái mới - phân loại theo thực tế (de facto) dựa trên các hành vi thực tế của các biến số kinh tế vĩ mô có liên quan. Ngược lại với các nghiên cứu trước đây, chúng ta phát hiện ra rằng, đối với các quốc gia đang phát triển, tỷ giá hối đoái kém linh hoạt hơn đi đôi với phát triển thấp hơn, với sản lượng đầu ra biến động lớn hơn. Đối với các quốc gia công nghiệp hóa, tỷ giá không có ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển”.
Von Hagen và Zhou (2005) tập trung vào 25 nền kinh tế chuyển đổi với dữ liệu trong giai đoạn 1990-1999, nghiên cứu tiếp cận vấn đề dưới góc độ lý thuyết khu vực tiền tệ tối ưu truyền thống, ổn định kinh tế vĩ mô, khủng hoảng tiền tệ, tính khả thi của chính sách tỷ giá; ngoài ra cũng chỉ ra rằnglạm phát, chênh lệch lạm phát tích lũy, dự trữ ngoại hối, ổn định kinh tế vĩ mô và khả năng cam kết neo giữ tỷ giá hay thâm hụt ngân sách tác động lớn đến việc lựa chọn cơ chế tỷ giá hối đoái. Tất cả các nghiên cứu này đều sử dụng số liệu của nhiều quốc gia khác nhau để chạy hồi quy các cơ chế tỷ giá hối đoái theo các biến số kinh tế khác, có tính thực nghiệm cao. Bleaney và cộng sự (2016) cho rằng khả năng luân chuyển vốn là một trong những tiêu chí đánh giá mức độ hội nhập tài chính của một quốc gia và tác động đến khả năng lựa chọn chính sách tỷ giá. Ở các nước đang phát triển, tiếp cận thấp với thị trường vốn quốc tế nên áp dụng tỷ giá cố định tương đối như neo tỷ giá.
Vì nó giúp đạt được lạm phát thấp hơn, tăng trưởng cao hơn và khả năng xảy ra khủng hoảng thấp hơn. Ở các nước có nền kinh tế thị trường đang chuyển đổi, tiếp cận cao hơn với dòng vốn quốc tế, thì nên áp dụng tỷ giá trung gian. Bởi vì, tỷ giá cố định nếu áp dụng ở các nước này sẽ là mầm mống gây ra khủng hoảng, mặt khác nó không giúp đạt được mức lạm phát thấp hoặc tăng trưởng cao một cách rõ ràng. Trong khi đó, tỷ giá linh hoạt hoàn toàn cũng không thể áp dụng ở các 7 z nước này, do lo ngại rằng dao động lớn trong tỷ giá hối đoái có thể gây ra thiệt hại cho nền kinh tế.
Ở các nước phát triển, thả nổi hoàn toàn sẽ cho mức phát triển nhanh hơn các loại tỷ giá khác mà không phải chịu lạm phát cao. Mặc dù, giá trị của tỷ giá hối đoái linh hoạt gia tăng với sự trưởng thành về tài chính, thì ưu thế của bất kỳ loại tỷ giá nào cũng sẽ được tăng cường bởi quản lý kinh tế vĩ mô nhất quán của các quốc gia. Giữa hệ thống các nước phát triển và đang phát triển, tiêu chí lựa chọn cơ chế tỷ giá hối đoái là khác nhau, quyết định lựa chọn chính sách tỷ giá cũng có sự khác biệt. Đối với một nền kinh tế hiện đang được nhìn nhận phát triển năng động nhất thế giới như Trung Quốc, thì nghiên cứu về tỷ giá hối đoái, các mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái với các biến kinh tế vĩ mô khác và tác động của tỷ giá hối đoái tới cán cân thương mại (CCTM), tới tăng trưởng kinh tế đã thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu.
Nghiên cứu về tỷ giá và chính sách tỷ giá Trung Quốc Những nghiên cứu về nền kinh tế Trung Quốc nói chung và tỷ giá của Trung Quốc nói riêng thu hút không chỉ những giới học thuật Trung Quốc mà còn thu hút cả những nhà nghiên cứu trên toàn thế giới. Bénassy-Quéré và Lahrèche-Révil (2003) đã nghiên cứu dựa trên việc giả sử tác động của việc giảm 10% giá thực của Đồng Nhân dân tệ và kết quả xuất khẩu Trung Quốc đến các nước OECD tăng và nhập khẩu từ các nước kinh tế mới nổi Châu Á giảm nếu tỷ giá của họ không thay đổi. Kamada và Takagawa (2005) đã làm một số mô hình mô phỏng để tính toán những tác động của thay đổi tỷ giá hối đoái của Trung Quốc; họ đã chỉ ra rằng, việc nâng giá 10% sẽ tác động mạnh mẽ đến CCTM và các lĩnh vực khác. Tất cả các nghiên cứu này sử dụng dữ liệu trước khi Trung Quốc là thành viên của 8 z WTO, nêu rõ được sự tác động của chính sách tỷ giá tác động đến hoạt động thương mại của Trung Quốc.
Jin (2003) ước tính các mối quan hệ giữa lãi suất, tỷ giá hối đoái thực và cán cân thanh toán của Trung Quốc và kết luận rằng việc tăng tỷ giá sẽ làm tăng thặng dư của cán cân thanh toán. Nguyễn Hồng Sơn (2009), Chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc trước và sau khi gia nhập WTO, đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái cũng như những tác động của nó tới nền kinh tế. Nghiên cứu về chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc trước và sau khi gia nhập WTO. Tác giả cũng phân tích, đánh giá quá trình điều chỉnh chính sách tỷ giá hối đoái ở Trung Quốc, chủ yếu từ năm 1981 - 2008, đồng thời khái quát chung được về chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam từ năm 1989 - 2008, và những vấn đề còn tồn tại của chính sách cải cách và điều chỉnh chính sách tỷ giá hối đoái ở Trung Quốc, và một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam trong thời gian tới.
Đề tài trên cũng xác định được quan điểm lựa chọn chế độ tỷ giá, xác định quan điểm điều chỉnh, đánh giá tình hình kinh tế trước và sau khi điều chỉnh tỷ giá. Một số đề tài khác đã nghiên cứu về chính sách tỷ giá Trung Quốc: Morris Goldstein (2004), Adjusting china's exchange; Ủy ban tổng hợp an ninh và kinh tế Trung Mỹ (2005), The China Currency Exchange Rate Problem; Đỗ Tuyết Khanh (2005), Trung Quốc sau bốn năm gia nhập WTO - Đánh giá sơ khởi vài nét chính.