CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ TỶ GIÁ VÀ LẠM PHÁT 1.1 Tổng quan về tỷ giá 1.1 Khái niệm về tỷ giá Tỷ giá là giá cả của một đồng tiền được biểu thị qua đồng tiền khác. Hay tỷ giá là số đơn vị đồng tiền định giá trên một đơn vị đồng tiền yết giá; đối với một quốc gia cụ thể, thì tỷ giá là số đơn vị nội tệ trên một đơn vị ngoại tệ, nghĩa là đồng ngoại tệ đóng vai trò là đồng tiền yết giá, còn nội tệ đóng vai trò là đồng tiền định giá 1.2 Phân loại tỷ giá 1.1 Tỷ giá hối đoái danh nghĩa Tỷ giá hối đoái danh nghĩa là tỷ giá được sử dụng hàng ngày trong các giao dịch trên thị trường ngoại hối, nó chính là giá của một đồng tiền được biểu thị thông qua đồng tiền khác mà chưa đề cập đến tương quan sức mua hàng hóa và dịch vụ giữa chúng. Tỷ giá hối đoái danh nghĩa là giá tương đối giữa đồng tiền của hai nước. Ví dụ: nếu tỷ giá hối đoái giữa đồng đô la Mỹ và đồng Việt Nam là 16.130 VNĐ/USD, thì bạn có thể đổi 1 USD lấy 16.130 trên thị trường tiền tệ thế giới.
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa thường được sử dụng để chỉ tỷ giá hối đoái giữa hai nước. Tỷ giá hối đoái ngày hôm sau là 1 USD đổi được 16.135 VNĐ tăng so với mức 1 USD đổi được 16.130 VNĐ trong ngày hôm trước. Người ta gọi đó là sự giảm giá của đồng Việt Nam, là sự gia tăng tỷ giá và ngược lại.2 Tỷ giá hối đoái thực Tỷ giá hối đoái thực chiếm vị trí quan trọng trong các nghiên cứu kinh tế về tỷ giá hối đoái. Xuất phát từ sự tin tưởng tỷ giá hối đoái thực là chỉ tiêu kinh 123doc 5 tế vĩ mô, giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, nhất là trong xu thế toàn cầu hiện nay.
Tỷ giá hối đoái thực là tỷ giá danh nghĩa được điều chỉnh bởi tương quan giá cả trong nước và ngoài nước. Tỷ giá hối đoái thực là giá tương đối của hàng hóa ở hai nước. Tức là, tỷ giá hối đoái thực cho chúng ta biết tỷ lệ mà dựa vào đó hàng hóa của một nước được trao đổi với hàng hóa nước khác.3 Chính sách tỷ giá hối đoái Vì chính sách tỷ giá là một bộ phận của chính sách kinh tế, nên về khái niệm, mục tiêu, nội dung và công cụ điều hành chính sách tỷ giá phải nhất quán với chính sách kinh tế của chính phủ. Chính vì vậy có thể khái niệm chính sách tỷ giá như sau: Chính sách tỷ giá là những họat động của chính phủ (mà đại diện thường là NHNN) thông qua một chế độ tỷ giá nhất định (hay cơ chế điều hành tỷ giá) và hệ thống các công cụ can thiệp nhằm duy trì một mức tỷ giá cố định hay tác động để tỷ giá biến động đến một mức cần thiết phù hợp với mục tiêu chính sách kinh tế quốc gia.
Như vậy, để duy trì một mức tỷ giá cố định hay tác động để tỷ giá biến động đến một mức cần thiết, thì cần phải có một chế độ tỷ giá và một hệ thống các công cụ can thiệp thích hợp. Mục tiêu của chính sách tỷ giá bao gồm: Mục tiêu ổn định giá cả: Với các yếu tố khác không đổi, khi giảm giá nội tệ (tức tăng tỷ giá), làm cho giá hàng hóa nhập khẩu tính bằng nội tệ tăng. Giá hàng hóa nhập khẩu tăng làm cho mặt bằng giá cả chung của nền kinh tế tăng, tức gây lạm phát. Tỷ giá tăng càng mạnh và tỷ trọng hàng hóa nhập khẩu càng lớn thì tỷ lệ lạm phát càng cao.
Điều này thể hiện qua công thức: P = .PM* Trong đó: : Tỷ trọng hàng hóa sản xuất trong nước 123doc 6 (1-): Tỷ trọng hàng hóa nhập khẩu. PD :Giá hàng hóa sản xuất trong nước tính bằng nội tệ PM* : Gía hàng hóa nhập khẩu tính bằng ngọai tệ E : Tỷ giá P : Giá hàng hóa chung của nền kinh tế Ngựơc lại, khi nâng giá nội tệ ( tức tỷ giá giảm) làm cho giá hàng hóa nhập khẩu tính bằng nội tệ giảm, tạo áp lực giảm phát. Mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và công ăn việc làm đầy đủ: khi các yếu tố khác không đổi, chính sách giảm giá nội tệ sẽ làm cho: - Kích thích tăng xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu làm tăng thu nhập quốc dân và tăng công ăn việc làm. - Làm cho những ngành sản xuất không sử dụng (hoặc sử dụng ít) đầu vào là hàng nhập khẩu sẽ tăng được lợi thế cạnh tranh về giá so với hàng hóa nhập khẩu, từ đó mỡ rộng được sản xuất, tăng thu nhập và tạo thêm công ăn viêc làm mới.
Mục tiêu cân bằng cán cân vãng lai: Với chính sách tỷ giá định giá thấp nội tệ sẽ có tác dụng thúc đẩy xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, giúp cải thiện đựơc cán cân vãng lai từ trạng thái thâm hụt trở về trạng thái cân bằng hay thặng dư. Với chính sách tỷ giá định giá cao nội tệ sẽ có tác dụng kìm hãm xuất khẩu và kích thích nhập khẩu, điều chỉnh cán cân vãng lai từ trạng thái thăng dư về cân bằng hay thâm hụt.4 Mặt trái khi đồng nội tệ được định giá cao Giá cả hình thành theo quy luật cung cầu là một trong những nhân tố quan trọng bậc nhất để một thị trường hoat động hiệu quả. Cũng như các thị trường khác, để thị trường ngoại hối hoạt động hiệu quả với doanh số giao dịch cực đại, có độ thanh khoản cao và chi phí giao dịch thấp thì tỷ giá phải được hình thành một cách khách quan theo quy luật cung cầu; hay nói cách khác, tỷ giá áp dụng 123doc 7 trong các giao dịch ngoại hối phải là tỷ giá thị trường, tức tại đó cung cầu cân bằng. Nếu tỷ giá quá cao hay quá thấp so với tỷ giá cân bằng, điều trở thành nhân tố kìm hãm doanh số giao dịch, kích thích đầu cơ, là nguyên nhân hình thành và phát triển thị trường ngầm và làm cho các nguồn lực xã hội phân bổ kém hiệu quả.
Nếu không có sự can thiệp của NHNN, thì tỷ giá được hình thành theo quan hệ cung cầu tại mức tỷ giá cân bằng, tại mức tỷ giá này thì cung cầu ngoại tệ bằng nhau. Nếu NHNN quy định tỷ giá giao dịch dưới mức cân bằng, làm cho thị trường ngoại hối trở nên mất cân đối, cung sẽ nhỏ hơn cầu. Do cung nhỏ hơn cầu, nên tỷ giá chịu áp lực tăng; để duy trì tỷ giá ổn định, buộc NHNN phải can thiệp lên thị trường ngoại hối bằng cách bán ngoại tệ ra và mua vào nội tệ, do đó dự trữ ngoại hối sẽ giảm. Nếu dự trữ ngoại hối mỏng thì sẽ nhanh chóng cạn kiệt.
Một khi dự trữ ngoại hối bị cạn kiệt hoặc NHNN không muốn tiếp tục giảm dự trữ ngoại hối, thì áp lực giảm giá nội tệ sẽ trở thành hiện thực. Giảm giá nội tệ không phải là biện pháp dễ được NHNN chấp nhận, bởi vì kèm theo giảm giá là áp lực lạm phát, làm xói mòn sức mua đồng tiền quốc gia, làm phát sinh những hậu quả về kinh tế, chính trị và xã hội khó lường. Để tránh giảm giá nội tệ và duy trì được tỷ giá ổn định, buộc NHNN phải áp dụng các biện pháp kiểm soát ngoại hối; ngoài ra, chính phủ còn có thể áp dụng các biện pháp can thiệp hỗ trợ thông qua hệ thống xuất nhập khẩu, hạn ngạch, danh sách mặt hàng hạn chế nhập khẩu … Tất cả các biện pháp nêu trên nhằm tăng cung và giảm cầu để duy trì tỷ giá giao dịch ổn định ở mức thấp hơn tỷ giá cân bằng. Những hậu quả khi NHNN ấn định tỷ giá giao dịch thấp hơn tỷ giá cân bằng: 1.
Kích thích nhập khẩu và hạn chế xuất khẩu, ảnh hưởng đến sản xuất trong nước. Thị trường ngoại hối luôn ở trạng thái cầu lớn hơn cung, nghĩa là thị trường khan hiếm hàng hóa, tạo ra cảnh “ mua tranh bán ép” hay “ bán thì cưỡng bách còn mua thì phân phối”. Làm giảm tính thanh khoản và khiến cho thị trường ngoọai hối họat động trở nên kém hiệu quả. Điều này được thể hiện ở chỗ, doanh số mua bán thị trường có tổ chức giảm.
Tỷ giá thấp cùng với doanh số mua bán ngoại tệ giảm đã kìm hãm phát triển ngoại thương và khiến cho các nguồn lực xã hội phân bổ kém hiệu quả 5. Việc quy định tỷ giá giao dịch thấp hơn tỷ giá cân bằng của thị trường là nguyên nhân chính hình thành và phát triển thị trường ngầm; hay nói cách khác, một khi thị trường ngầm tồn tại và tỷ giá trên thị trường này cao hơn tỷ giá giao dịch trên thị trường chính thức thì có thể tin rằng đồng nội tệ đang định giá cao. Do tỷ giá luôn chịu sức ép tăng một chiều, điều này khiến cho những nhà đầu cơ vào cuộc, một mặt họ găm giữ ngoại tệ, mặt khác họ tích cực mua vào chờ thời cơ tỷ giá tăng để bán kiếm lời; thậm chí những người không có nhu cầu về ngoại tệ để thanh toán cũng ra sức mua bằng được ngọai tệ để làm phương tiện cất trữ giá trị. Điều này khiến cho thị trường ngoại hối lại càng trở nên căng thẳng và tạo sức ép mạnh hơn lên giảm giá nội tệ.
Như vậy, vô hình chung trên thị trường ngoại hối đã tạo ra cơ chế “hai giá” Đương nhiên những người có nhu cầu ngoại tệ đều muốn mua được giá phân phối, hay giá trong, nhưng vì ngoại tệ khan hiếm nên buộc họ phải “xếp hàng” chờ phân phối và cấp phép. Đây chính là môi trường thuận lợi để các hành vi nhận hối lộ, làm việc cửa sau,. Do tồn tại cơ chế hai giá nên khiến cho môi trường kinh doanh trở nên không bình đẳng. Ví dụ, đều là nhà nhập khẩu, nhưng nhà nhập khẩu A mua được giá chính thức, còn nhà nhập khẩu B phải mua ngoại tệ theo giá thị trường ngầm, do đó nhà nhập khẩu A sẽ có lợi thế hơn trong cạnh tranh.
Do bán ngoại tệ ở thị trường ngầm với tỷ giá cao hơn so với thị trường chính thức, điều này càng khuyến khích những người có ngoại tệ tìm cách chỉ bán ra trên thị trường ngầm; ngoài ra, có thể tạo động cơ cho một số cán bộ làm việc ở bàn thu đổi ngoại tệ lợi dụng ăn chênh lệch giá.