CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TỶ GIÁ, CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CƠ CHẾ DẪN TRUYỀN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 1. TỔNG QUAN VỀ TỶ GIÁ 1. Tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thực song phương Tỷ giá danh nghĩa song phương (NER) giữa hai ñồng tiền ñược ñịnh nghĩa là giá của một ñơn vị ngoại tệ tính theo nội tệ [80]. Theo ñịnh nghĩa này, ngoại tệ ñóng vai trò là ñồng tiền yết giá và nội tệ ñóng vai trò là ñồng tiền ñịnh giá (chẳng hạn 1USD = 21.
NER ñược các NHTM niêm yết hàng ngày phục vụ cho các giao dịch mua bán ngoại tệ, do vậy, NER của từng cặp ñồng tiền thông thường ñược xác ñịnh dựa trên quan hệ cung cầu của cặp ñồng tiền ñó. Về mặt ý nghĩa, NER của một cặp ñồng tiền chỉ cho biết ñược giá trị hoán ñổi giữa ngoại tệ và nội tệ mà không cho biết ñược số lượng hàng hóa tương ứng trong nước có thể mua ñược của một ñơn vị ngoại tệ. ðể khắc phục nhược ñiểm của NER, tỷ giá thực song phương (RER) ñược sử dụng. RER của một quốc gia ñược ñịnh nghĩa là tỷ lệ giữa hàng hóa ngoại thương so với hàng hóa phi ngoại thương tính bằng nội tệ [80].
Theo ñó, RER ño lường lượng ñơn vị hàng hóa phi ngoại thương cần thiết ñể ñổi ñược một ñơn vị hàng hóa ngoại thương trong một quốc gia. Khi RER tăng, tính cạnh tranh thương mại của quốc gia sẽ tăng lên và ngược lại, khi RER giảm, tính cạnh tranh thương mại của quốc gia sẽ giảm xuống. Với giả ñịnh giá của hàng hóa ngoại thương bằng nhau trên toàn thế giới, RER của một cặp ñồng tiền ñược tính theo công thức (1.1) 2 Trong ñó, NER cho biết tỷ giá danh nghĩa song phương của hai ñồng tiền dưới dạng chỉ số; Pt và P*t lần lượt là giá trong nước và giá thế giới của hàng hóa ngoại thương; Pn là giá của hàng hóa phi ngoại thương. RER ñược tính toán theo công thức (1.1) cho biết diễn biến của chỉ số này theo thời gian so với một năm gốc ấn ñịnh (với RERt0 = 100).
Nếu RER lớn hơn 100 (RER>100), nội tệ giảm giá, giá trung bình trong nước thấp hơn so với nước ngoài, khả năng cạnh tranh của hàng trong nước tăng. Ngược lại, nếu RER nhỏ hơn 100 (RER<100), nội tệ tăng giá, giá trung bình trong nước cao hơn so với nước ngoài, khả năng cạnh tranh của hàng trong nước giảm. Tuy RER khắc phục ñược nhược ñiểm của NER và còn có thể cho biết ñược tính cạnh của một quốc gia so với một quốc gia khác, trong bối cảnh thương mại quốc tế là ña phương như hiện nay, RER không thể cho biết ñược tính cạnh tranh tổng quát của một quốc gia so với phần còn lại của thế giới. Do vậy, khái niệm tỷ giá thực ña phương ñược phát triển.
Tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thực ña phương Tỷ giá thực ña phương hay còn gọi là tỷ giá thực hiệu dụng (REER) của một quốc gia ñược ñịnh nghĩa là giá trị trung bình có trọng số của các tỷ giá thực song phương giữa quốc gia với từng ñối tác thương mại, với trọng số là tỷ trọng thương mại. ðịnh nghĩa này cho thấy REER là một giá trị trung bình nên REER có thể ở trạng thái cân bằng chung khi ñồng tiền của quốc gia lên giá với ñối tác thương mại này và xuống giá so với ñối tác thương mại khác. ðể tính toán REER, các nhà nghiên cứu hiện nay ñang sử dụng hai phương pháp phổ biến là trung bình ñại số (AM) và trung bình hình học (GM) có công thức lần lượt như sau: k Phương pháp AM: REERt = ∑ RERit × wit (1.2) i =1 k Phương pháp GM: REERt = ∏ t =1 RERit w it (1.3) 3 Trong ñó, RERi là tỷ giá thực của nội tệ so với ngoại tệ thứ i (i = 1, 2, 3, … k) và ñược tính theo công thức (1.1), wi ñại diện cho phần trọng số gắn với ñồng tiền thứ i, t biểu thị thời gian. REER tính toán theo công thức (1.3) ñều cho biết diễn biến của chỉ số này trong tương quan so sánh với thời ñiểm gốc (REERt0=100).
Khi REER < 100, nội tệ tăng giá so với thời ñiểm gốc, tính cạnh tranh của hàng hóa trong nước giảm; ngược lại, khi REER > 100, nội tệ giảm giá so với thời ñiểm gốc, tính cạnh tranh của hàng hóa trong nước tăng. Ngoài ra, ñể theo dõi diễn biến của tỷ giá thực ña phương so với tỷ giá danh nghĩa, các nhà nghiên cứu còn tính toán tỷ giá danh nghĩa ña phương (NEER) theo phương pháp AM và GM ñược trình bày trong công thức (1.5): Phương pháp AM: (1.4) Phương pháp GM: (1.5) Trong ñó NERi là tỷ giá danh nghĩa dạng chỉ số của ñồng tiền thứ i (i = 1, 2, 3, …k), wi là trọng số gắn với ñồng tiền thứ i, t biểu thị thời gian. NEER tính theo công thức (1.5) cũng ở dạng chỉ số, cho biết diễn biến giá trị danh nghĩa của nội tệ so với k ngoại tệ theo thời ñiểm gốc ñược lựa chọn. Sự vận hành của tỷ giá trong nền kinh tế Tỷ giá là một biến số kinh tế vĩ mô quan trọng ñối với các nền kinh tế mở, chính vì vậy cách thức vận hành của tỷ giá luôn ñược các nhà ñiều hành chính sách quan tâm.
Thông thường, nhà ñiều hành sẽ lựa chọn cách thức vận hành của tỷ giá, hay chọn một chế ñộ tỷ giá cho nền kinh tế. Thông qua chế ñộ tỷ giá lựa chọn, nhà ñiều hành cũng xác ñịnh những nguyên tắc ñiều tiết hoặc can thiệp lên tỷ giá. 4 Theo phân loại học thuật phổ biến hiện nay, có ba chế ñộ tỷ giá bao gồm: chế ñộ tỷ giá thả nổi, chế ñộ tỷ giá cố ñịnh và chế ñộ tỷ giá trung gian hay tỷ giá thả nổi có ñiều tiết [77]. Trong chế ñộ tỷ giá thả nổi, tỷ giá sẽ tự do vận hành theo qui luật cung cầu của thị trường mà không có sự can thiệp của NHTW.
Theo ñó, những yếu tố phía sau cung cầu của ñồng tiền sẽ quyết ñịnh diễn biến của tỷ giá thị trường. Ngược lại, trong chế ñộ tỷ giá cố ñịnh, tỷ giá sẽ ñược ấn ñịnh bởi NHTW theo một cách thức ñược lựa chọn, phổ biến nhất là neo giá trị nội tệ với một ngoại tệ khác, với một rổ các ngoại tệ hoặc với vàng. Do tỷ giá trên thị trường về thực chất chịu tác ñộng của cung cầu, NHTW sẽ phải can thiệp thường xuyên vào thị trường ngoại hối ñể có thể giữ tỷ giá thị trường ở mức ñã “cố ñịnh”. Trong chế ñộ tỷ giá trung gian, NHTW không cố ñịnh cũng không thả nổi tỷ giá mà cố gắng ñiều hành tỷ giá ở một mức ñộ nhất ñịnh.
Có nhiều chế ñộ tỷ giá trung gian khác nhau ñã ñược các quốc gia áp dụng, thông thường một chế ñộ tỷ giá trung gian ñược vận hành bao gồm ba ñặc ñiểm: (1) Mức ñộ thả nổi của tỷ giá dựa trên cung cầu của thị trường ñể tỷ giá có thể ñóng vai trò tín hiệu thị trường; (2) Khung ñiều chỉnh mức thả nổi của tỷ giá dựa trên qui mô và tình trạng của cán cân thương mại và cán cân vãng lai; (3) Tỷ giá ñược xác ñịnh dựa trên một rổ các ñồng tiền [83]. Như vậy trong chế ñộ tỷ giá trung gian, NHTW vẫn ñể cho tỷ giá vận hành theo các áp lực cung cầu của thị trường trong một giới hạn xác ñịnh (khung), nhà ñiều hành chỉ can thiệp khi tỷ giá thị trường có nguy cơ chệch ra khỏi khung giới hạn này. Trong thực tế, dựa theo ba cách phân loại học thuật, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) phân loại các chế ñộ tỷ giá của các quốc gia thành viên thành mười loại thuộc ba nhóm: nhóm neo nghiêm ngặt (Hard Peg), nhóm neo nhẹ (Soft Peg) và nhóm thả nổi (Floating Arrangements) [77] (Phụ lục D). Trong lịch sử, chế ñộ tỷ giá thả nổi và cố ñịnh cực ñoan ñã từng ñược sử dụng rất rộng rãi và qua ñó cũng ñã bộc lộ rất nhiều nhược ñiểm.
Chế ñộ tỷ giá cố ñịnh tồn tại trong hệ thống Bretton Woods ñã cho thấy tính không an toàn với các cuộc tấn công ñầu cơ và ñã sụp ñổ vì những làn sóng ñầu cơ này. Các cuộc khủng hoảng tiền tệ gần ñây như khủng hoảng ðông Á 1997 một lần nữa minh 5 chứng cho tính không an toàn của cơ chế vận hành tỷ giá này. Chế ñộ tỷ giá thả nổi trong giai ñoạn giữa hai cuộc thế chiến lại bỏ qua vai trò của NHTW ñối với một biến số vĩ mô quan trọng của nền kinh tế, tạo ra chi phí giao dịch lớn ñối với các giao dịch xuyên biên và dẫn ñến tính bất ổn cao của nền kinh tế vĩ mô do những biến ñộng bất thường khó dự ñoán của tỷ giá. Chính vì vậy, các nhà nghiên cứu và các NHTW ngày nay ñều thống nhất cho rằng cần quan sát chặt chẽ diễn biến của tỷ giá thị trường và thực hiện những can thiệp phù hợp vào tỷ giá khi cần thiết.
Thống kê của IMF cũng cho thấy, trong 190 quốc gia thành viên vào thời ñiểm tháng 4/2011, 25 quốc gia theo nhóm neo nghiêm ngặt, 99 quốc thuộc nhóm neo nhẹ và 66 quốc gia thuộc nhóm thả nổi (Phụ lục D). Mặc dù không có một cơ chế vận hành tỷ giá tối ưu chung cho các nền kinh tế, việc lựa chọn một cơ chế vận hành tỷ giá trong nền kinh tế mở là việc làm thiết yếu quan trọng của NHTW. Các nhà nghiên cứu cho rằng tùy thuộc vào ñặc ñiểm của mỗi nền kinh tế mà nhà ñiều hành sẽ xác ñịnh một cơ chế vận hành phù hợp. ðối với việc lựa chọn cơ chế vận hành của tỷ giá trong nền kinh tế, các nhà nghiên cứu hiện nay ñang hướng sự quan tâm vào thuyết “Bộ ba bất khả thi” dựa trên mô hình IS-LM-BP của Mundell-Flemming.
Theo thuyết này, quốc gia chỉ có thể lựa chọn hai trong ba mục tiêu ñể theo ñuổi bao gồm: cố ñịnh tỷ giá, tự do hóa giao dịch vốn và CSTT ñộc lập. Nếu quốc gia ñã lựa chọn mở cửa thị trường tài chính và duy trì CSTT ñộc lập với những tác ñộng từ bên ngoài thì việc cố ñịnh tỷ giá trong nền kinh tế là “bất khả thi”. Ngược lại, nếu quốc gia chấp nhận hi sinh một trong hai mục tiêu còn lại (ñóng cửa thị trường tài chính hoặc ñiều hành CSTT không ñộc lập) thì quốc gia có thể theo ñuổi chế ñộ tỷ giá cố ñịnh.1: Bộ ba bất khả thi Nguồn: Frankel [66]. TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 1.