LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong nền kinh tế hiện nay, tỷ giá có tác động không nhỏ đến cán cân thƣơng mại quốc tế. Theo các lý thuyết về kinh tế quốc tế, khi tỷ giá có xu hƣớng tăng sẽ tạo hiệu ứng kích thích xuất khẩu làm tăng tổng kim ngạch xuất khẩu, đi kèm với đó là việc làm tăng giá trị các mặt hàng nhập khẩu. Nhƣ vậy trong ngắn hạn điều này sẽ góp phần cải thiện cán cân thƣơng mại, nâng cao tính cạnh tranh của quốc gia.
Cũng chính bởi vậy mà nhiều quốc gia trên thế giới đã sử dụng tỷ giá nhƣ một công cụ để làm thay đổi cán cân thƣơng mại qua việc phá giá đồng nội tệ của mình.Tại Việt Nam, trong hơn 10 năm trở lại đây, cán cân thƣơng mại luôn ở trong tình trạng thâm hụt (ngoại trừ giai đoạn 2012 – 2014). Đặc biệt phải kể đến tình trạng nhập siêu ở mức báo động với Trung Quốc đã khiến cho nền kinh tế Việt Nam mất đi thế chủ động, cân bằng kinh tế vĩ mô bị đe dọa. Với việc đồng CNY của Trung Quốc mới gia nhập giỏ tiền tệ SDR, trong thời gian tới chính phủ Trung Quốc sẽ phải thả nổi linh hoạt Nhân dân tê. Điều này cũng đồng nghĩa với việc Nhân dân tệ sẽ lên giá.
Tong bối cảnh đó, cán cân thƣơng mại Việt Nam - Trung Quốc sẽ đứng trƣớc những cơ hội và thách thức nào? Liệu tình trạng nhập siêu từ Trung Quốc có đƣợc cải thiện hay không? Việt Nam có thể tận dụng đƣợc sự lên giá của nhân dân tệ (CNY) để thúc đẩy xuất khẩu sang Trung Quốc từ đó làm giảm tình trạng nhập siêu từ Trung Quốc. Chính vì nguyên nhân kể trên, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Tác động của tỷ giá đến cán cân thương mại song phương Việt Nam – Trung Quốc” cho khóa luận tốt nghiệp tại Học viện Ngân hàng. Tính mới của đề tài Mối quan hệ giữa cán cân thƣơng mại và tỷ giá là một vấn đề đƣợc nhiều học giả, các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách quan tâm nhƣ: Phạm Chí Quang (1999), Nguyễn Thị Huyền Anh (2005), Đinh Thanh Long (2009), Nguyễn Thanh Nhàn và Phạm Lâm Anh (2011). Tuy nhiên, các nghiên cứu trƣớc đây thƣờng tập trung vào mối quan hệ giữa cán cân thƣơng mại của toàn bộ nền kinh tế và tỷ giá nói chung.
Một số nghiên cứu có đề cập đến cán cân thƣơng mại Việt Nam – Trung Quốc nhƣng cũng chỉ dừng ở việc nêu thực trạng, nguyên nhân giải pháp chứ chƣa đề cập 1 riêng đến cán cân thƣơng mại Việt Nam - Trung Quốc trong bối cảnh nhân dân tệ gia nhập vào giỏ tiền tệ chung SDR cũng nhƣ Việt Nam gia nhập TPP và AEC. Chính vì vậy, theo hiểu biết của mình, tác giả cho rằng đây là tính mới của đề tài này. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài - Hệ thống hóa một cách toàn diện khung lí thuyết về tỷ giá và cán cân thƣơng mại, tác động của tỷ giá tới cán cân thƣơng mại. - Đánh giá chính xác thực trạng thƣơng mại song phƣơng Việt Nam – Trung Quốc - Tìm ra tác động của tỷ giá tới cán cân thƣơng mại Việt Nam – Trung Quốc.
- Đề xuất giải pháp điều hành tỷ giá cũng nhƣ các giải pháp khác nhằm cải thiện cán cân thƣơng mại song phƣơng Việt Nam – Trung Quốc. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lý luận về tỷ giá, cán cân thƣơng mại song phƣơng Việt Nam – Trung Quốc, các tác động của tỷ giá đến cán cân thƣơng mai song phƣơng. - Phạm vi nghiên cứu: Cán cân thƣơng mại Việt Nam – Trung Quốc và tỷ giá trong giai đoạn 2000 – 2015. Phƣơng pháp nghiên cứu - Phƣơng pháp phân tích truyền thống nhƣ so sánh, tổng hợp… - Phƣơng pháp phân tích định lƣợng để thấy đƣợc tác động của nhân tố tỷ giá tới cán cân thƣơng mại song phƣơng Việt Nam - Trung Quốc.
Đề tài sử dụng phƣơng pháp hồi quy tuyến tính dựa trên bộ số liệu từ quý 1/2000 đến quý 4/2015. Các số liệu đƣợc thu thập từ các nguồn thông tin chính thức bao gồm: Ngân hang Nhà nƣớc Việt Nam, Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan, IMF… 6. Kết cấu đề tài Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tỷ giá và tác động của tỷ giá đến cán cân thƣơng mại song phƣơng. Chƣơng 2: Thực trạng tác động của tỷ giá đến cán cân thƣơng mại Việt Nam – Trung Quốc Chƣơng 3: Khuyến nghị chính sách đối với điều hành tỷ giá ở Việt Nam nhằm cải thiện cán cân thƣơng mại song phƣơng Việt Nam – Trung Quốc.
2 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỶ GIÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ ĐẾN CÁN CÂN THƢƠNG MẠI SONG PHƢƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỶ GIÁ 1. Khái niệm về tỷ giá 1. Khái niệm Tỷ giá (Exchange rate): là giá cả của một đồng tiền đƣợc biểu thị thông qua đồng tiền khác.
Trong đó đồng tiền yết giá là đồng tiền có đơn vị cố định và bằng 1 đơn vị. Đồng tiền định giá là đồng tiền có đơn vị thay đổi, phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trƣờng. Ví dụ: Tỷ giá USD/VND = 22,230 tức là 1 USD sẽ đổi lấy 22,230 VNĐ. Ở đây đồng tiền yết giá là USD còn đồng tiền định giá là VND.
Phân loại tỷ giá hối đoái Trong giao dịch ngoại hối, tín dụng và thanh toán thƣơng mại quốc tế, các loại tỷ giá hối đoái khác nhau đƣợc hình thành và phục vụ mục đích khác nhau. Một số loại tỷ giá sau đây thƣờng đƣợc sử dụng và có mối quan hệ gắn bó với nhau. Căn cứ vào phƣơng tiện chuyển ngoại hối: + Tỷ giá điện hối (T/T Rate): là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng điện. Tỷ giá này đƣợc yết tại các điểm giao dịch ngoại hối, trên các bảng điện và là tỷ giá cơ sở để xác định các loại tỷ giá khác.
+ Tỷ giá thƣ hối (M/T Rate): là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thƣ.Tỷ giá thƣ hối bằng tỷ giá điện hối trừ đi lại phát sinh trong thời gian chuyển thƣ hối. Căn cứ vào phƣơng tiện thanh toán quốc tế: + Tỷ giá Séc (Cheque Rate): là tỷ giá áp dụng cho việc mua bán các loại séc ngoại tệ. Tỷ giá séc thấp hơn tỷ giá điện hối. Tùy thuộc vào loại séc, có tỷ giá séc trả ngay và tỷ giá séc có kỳ hạn.
+ Tỷ giá hối phiếu trả ngay (Draft Rate): là tỷ giá áp dụng cho việc mua bán các loại hối phiếu có kỳ hạn bằng ngoại tệ. Tỷ giá hối cổ phiếu có kỳ hạn bằng tỷ giá điện hối 3 trừ đi lãi phát sinh từ khi hối phiếu đƣợc phát hành đến khi hối phiếu đƣợc trả tiền. Khoảng thời gian này bao gồm thời gian chuyển hối phiếu và kỳ hạn của hối phiếu. + Tỷ giá chuyển khoản (Transfer Rate): là tỷ giá áp dụng cho việc mua bán ngoại hối mà việc chuyển trả ngoại hối đƣợc thực hiện bằng cách chuyển khoản qua ngân hàng.
Trong nhiều trƣờng hợp, tỷ giá chuyển khoản có thể lớn hơn tỷ giá điện hối (nhƣng thƣờng chỉ với tỷ giá mua) + Tỷ giá tiền mặt (Cash Rate): là tỷ giá áp dụng cho việc mua bán ngoại hối mà việc chuyển trả ngoại hối là bằng tiền mặt. Căn cứ vào thời điểm giao dịch: + Tỷ giá mở cửa (Opening Rate): là tỷ giá vào đầu giờ giao dịch hay tỷ giá mua bán ngoại hối của hợp đồng giao dịch đầu tiên trong ngày. Tỷ giá mở cửa của một trung tâm giao dịch cụ thể có thể là tỷ giá hợp đồng giao dịch cuối cùng của ngày giao dịch trƣớc (tỷ giá đóng cửa của ngày giao dịch trƣớc) hoặc tỷ giá giao dịch của trung tâm giao dịch gần nhất về địa lý đang giao dịch. + Tỷ giá đóng cửa (Closing Rate): tỷ giá của hợp đồng giao dịch cuối cùng của ngày giao dịch.
Căn cứ vào phƣơng thức giao dịch trên thị trƣ ờng, có các loại tỷ giá: + Tỷ giá giao ngay (Spot Rate): Tỷ giá áp dụng cho việc mua bán ngoại hối mà việc giao nhận ngoại hối đƣợc thực hiện trong vòng 2 ngày làm việc kể từ ngày giao dịch. + Tỷ giá có kỳ hạn (Forward Rate): là tỷ giá mua bán ngoại hối mà việc giao nhận ngoại hối sẽ đƣợc thực hiện sau một kỳ hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng (kỳ hạn có thể là 1; 2, 3,…tháng sau). Tỷ giá có kỳ hạn do ngƣời kinh doanh tiền tệ tính toán trên cơ sở tỷ giá giao ngay và niêm yết. Tỷ giá có kỳ hạn đƣợc xác định theo công thức: (1.1) Trong đó: FR là tỷ giá có kỳ hạn; SR là tỷ giá giao ngay (Tỷ giá điện hối của ngày giao dịch); id là lãi suất của đồng tiền định giá; iy là lãi suất của đồng tiền yết giá.
4 Cần chú ý mối quan hệ giữa tỷ giá giao ngay và tỷ giá có kỳ hạn. Mức chệnh lệch giữa tỷ giá có kỳ hạn và tỷ giá giao ngay trong một số trƣờng hợp đƣợc biểu hiện dƣới dạng điểm tăng (Premiums) hoặc điểm giảm nhƣ sau: Với cách yết tỷ giá trực tiếp: Điểm tăng / giảm theo kỳ hạn = (1.2) Với cách yết tỷ giá gián tiếp: Điểm tăng / giảm theo kỳ hạn = (1.3) (Trong công thức 1.3, n là số tháng của một kỳ hạn.) Số điểm tăng hoặc giảm cho thấy đồng tiền tăng giá hoặc giảm giá trong tƣơng lai so với hiện tại. Điểm chênh lệch có thể tính toán dựa vào chênh lệch lãi suất theo lý thuyết cân bằng lãi suất. Tỷ giá có kỳ hạn cũng khác nhau giữa tỷ giá mua và tỷ giá bán.
Tỷ giá mua có kỳ hạn thấp hơn tỷ giá bán có kỳ hạn và do ngân hàng niêm yết để giao dịch với khách hàng là các ngân hàng khác hoặc các doanh nghiệp, cá nhân. Nhƣ vậy, tùy thuộc vào vị trí của chủ thể trên thị trƣờng (ngân hàng, công ty kinh doanh thƣơng mại quốc tế) mà tỷ giá có kỳ hạn đƣợc xác định khác nhau, phục vụ cho mục đích kinh doanh, hoặc giảm thiểu rủi ro.Phƣớc pháp xác định tỷ giá có kỳ hạn trên chỉ mới xem xét dƣới góc độ tỷ giá có kỳ hạn trên chỉ mới xem xét dƣới góc độ tỷ giá kỳ hạn đơn, nghĩa là ngƣời mua/ ngƣời bán không quan tâm đến chênh lệch tỷ giá mua và tỷ giá bán. Căn cứ vào ngiệp vụ mua bán ngoại tệ, có các loại tỷ giá: Tỷ giá mua (BID Rate): là tỷ giá ngân hàng mua ngoại hối vào. Tỷ giá bán (ASK Rate): là tỷ giá ngân hàng bán ngoại hối cho khách hàng.