CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Lý do nghiên cứu Đầu những năm 1990, các ngân hàng nƣớc ngoài hiện diện trên thị trƣờng Việt Nam dƣới hình thức các văn phòng đại diện, sau đó là chi nhánh Ngân hàng nƣớc ngoài (NHNNg). Theo cam kết, khi Việt Nam gia nhập WTO, các NHNNg đƣợc hiện diện thƣơng mại dƣới các hình thức: văn phòng đại diện, chi nhánh NHNNg và ngân hàng 100% vốn nƣớc ngoài. Đến cuối năm 2015, theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam, trên thị trƣờng Việt Nam có 50 văn phòng đại diện NHNNg, 50 chi nhánh NHNNg và 5 Ngân hàng 100% vốn nƣớc ngoài đăng k hoạt động.
Dƣới các hình thức khác nhau nhƣng các NHNNg luôn đóng vai trò quan trọng trong hệ thống Ngân hàng Việt Nam. Các NHNNg luôn đi đầu trong việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại và cung ứng các sản phẩm mới. Ngoài ra, họ còn đóng vai trò là cầu nối thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài vào Việt Nam, là kênh truyền dẫn vào Việt Nam những công nghệ ngân hàng hiện đại, những phƣơng pháp quản trị tốt nhất và là nguồn tài chính không nhỏ bổ sung cho thị trƣờng tài chính Việt Nam. Bên cạnh đó, sự hiện diện của các ngân hàng nƣớc ngoài sẽ làm gia tăng sự cạnh tranh, tạo sức ép, buộc các ngân hàng thƣơng mại trong nƣớc phải đổi mới không ngừng, qua đó góp phần thúc đẩy hệ thống ngân hàng Việt Nam phát triển.
Trên thế giới, chủ đề ảnh hƣởng của NHNNg đƣợc nghiên cứu nhiều từ những năm cuối thập niên 1990. Kết quả cho thấy các ngân hàng nƣớc ngoài đƣợc đánh giá là có ảnh hƣởng tích cực đến nền kinh tế nƣớc bản địa. Ví dụ, Demirgüc-Kunt & Detregiache (1998) và Levine (1999) cho rằng sự hiện diện của ngân hàng nƣớc ngoài làm giảm khả năng xảy ra khủng hoảng hệ thống ngân hàng và có tác động tích cực đến tăng trƣởng kinh tế. Detragiache & Gupta (2004) khẳng định rằng các ngân hàng nƣớc ngoài có hoạt động ổn định trƣớc và sau một cuộc khủng hoảng ngân hàng ở nƣớc bản địa.
Freixas & Holthausen (2005) chứng minh rằng nếu hệ thống ngân hàng xảy ra cú sốc thiếu hụt thanh khoản tổng hợp, các ngân hàng nƣớc Trang 1 Ảnh hưởng của ngân hàng nước ngoài đến rủi ro thanh khoản hệ thống ngân hàng Việt Nam ngoài có thể cung cấp nguồn thanh khoản cho hệ thống ngân hàng bản địa.1 Dinger (2009) khẳng định ngân hàng nƣớc ngoài có vai trò làm ổn định thanh khoản hệ thống ngân hàng bản địa. Bên cạnh đó, xác suất xảy ra sự thiếu hụt thanh khoản tổng hợp thấp hơn ở quốc gia mà các ngân hàng chiếm tỷ trọng lớn hơn trong hệ thống. Ở Việt Nam, hiện chƣa tìm thấy nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hƣởng của NHNNg đến thanh khoản của hệ thống ngân hàng. Với hàng loạt các hiệp định tự do thƣơng mại và kinh tế đã/sẽ đƣợc ký kết và có hiệu lực (WTO, TPP, AEC), ngân hàng nƣớc ngoài, đặc biệt là các ngân hàng trong khu vực, sẽ tập trung nhiều hơn vào thị trƣờng Việt Nam và sẽ trở thành đối thủ tiềm tàng của các ngân hàng Việt Nam.
Vấn đề ảnh hƣởng của ngân hàng nƣớc ngoài đến hệ thống ngân hàng trở nên cấp bách hơn bao giờ. Với mong muốn bổ sung thêm bằng chứng thực nghiệm khẳng định vai trò của ngân hàng nƣớc ngoài đối với hệ thống ngân hàng bản địa, thu hẹp khoảng trống học thuật trong vấn đề ảnh hƣởng của ngân hàng nƣớc ngoài đến thanh khoản hệ thống Ngân hàng Việt Nam, từ đó có thể đƣa ra những gợi ý chính sách quản lý hoạt động ngân hàng. Tác giả đã lựa chọn đề tài “Ảnh hưởng của Ngân hàng nước ngoài đến rủi ro thanh khoản hệ thống ngân hàng Việt Nam” cho luận văn thạc sĩ của mình. 1 Freixas &Holthausen (2005) cung cấp một mô hình lý thuyết chứng minh rằng: chi nhánh của các ngân hàng đa quốc gia có thể truy cập vào thanh khoản trong cả hệ thống ngân hàng chủ nhà, ở nƣớc ngoài và các ngân hàng nƣớc ngoài nên sẽ ít quan tâm đến những cú sốc thanh khoản và sẽ giữ khối lƣợng tài sản thanh khoản thấp hơn so với các ngân hàng trong nƣớc.
Tuy nhiên, trong thời gian xảy ra tình trạng thiếu thanh khoản tổng hợp ở nƣớc sở tại, chi nhánh các ngân hàng đa quốc gia tăng nắm giữ khối lƣợng tƣơng đối tài sản thanh khoản của họ so với các ngân hàng trong nƣớc. Trang 2 Ảnh hưởng của ngân hàng nước ngoài đến rủi ro thanh khoản hệ thống ngân hàng Việt Nam 1. Tổng quan về ngân hàng nước ngoài và hệ thống ngân hàng Việt Nam Đến cuối năm 2014, theo báo cáo của NHNN Việt Nam, hệ thống ngân hàng Việt Nam có 5 ngân hàng thƣơng mại có vốn nhà nƣớc (04 ngân hàng đã cổ phần), 01 ngân hàng chính sách, 01 ngân hàng đầu tƣ, 33 ngân hàng thƣơng mại cổ phần, 04 ngân hàng liên doanh, 47 chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài, 05 ngân hàng 100% vốn nƣớc ngoài, 28 tổ chức tín dụng phi ngân hàng, 01 quỹ tín dụng nhân dân trung ƣơng, 1.145 quỹ tín dụng nhân dân cơ sở, 03 tổ chức tài chính vi mô (phụ lục A – bảng A. Tổng vốn điều lệ toàn hệ thống đạt 435,65 nghìn tỷ đồng, Vốn tự có toàn hệ thống đạt 496,57 nghìn tỷ đồng.
Tổng tài sản đạt 6.514,9 nghìn tỷ đồng (phụ lục A – bảng A. Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) và vốn chủ sở hữu (ROE) toàn hệ thống lần lƣợt là 0,57% và 6,43%. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu đạt 12,45%. Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn là 20,15% (phụ lục A – bảng A.
Đầu những năm 1990, các ngân hàng nƣớc ngoài hiện diện trên thị trƣờng Việt Nam dƣới hình thức các văn phòng đại diện, sau đó là chi nhánh Ngân hàng nƣớc ngoài. Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, theo cam kết, Việt Nam cho phép các ngân hàng nƣớc ngoài đƣợc hiện diện thƣơng mại dƣới các hình thức: văn phòng đại diện, chi nhánh NHNNg và ngân hàng 100% vốn nƣớc ngoài. Đến tháng 8/2016 số lƣợng ngân hàng 100% vốn nƣớc ngoài đã tăng lên 7 ngân hàng (ANZ, HSBC, Shinhan Việt Nam, Hongleong, Standard Chartered Việt Nam, Public Bank Berhad , Woori Bank). Đến cuối năm 2014, khối ngân hàng nƣớc ngoài và liên doanh có vốn điều lệ đạt 86,625 nghìn tỷ đồng, vốn tự có đạt 106,004 nghìn tỷ đồng, tổng tài sản đạt 701,986 nghìn tỷ đồng (phụ lục A – bảng A.
Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) và vốn chủ sở hữu (ROE) khối nƣớc ngoài và liên doanh lần lƣợt là 0,71% và 64,29%, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu đạt 30,78%, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn là -4,45% (phụ lục A – bảng A.1 thể hiện mức độ thâm nhập của các ngân hàng trong giai đoạn 1993 – 2013 của các ngân hàng nƣớc ngoài trong thị trƣờng Việt Nam. Trang 3 Ảnh hưởng của ngân hàng nước ngoài đến rủi ro thanh khoản hệ thống ngân hàng Việt Nam Từ khi Việt Nam mở cửa lĩnh vực ngân hàng đến nay, các ngân hàng nƣớc ngoài hoạt động tại Việt Nam luôn chiếm vai trò quan trọng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Theo đánh giá của các chuyên gia ngân hàng, với lợi thế về nguồn tài chính, kinh nghiệm, công nghệ. các ngân hàng nƣớc ngoài luôn đi đầu trong việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại, cung ứng các sản phẩm mới tại thị trƣờng Việt Nam.
Các ngân hàng nƣớc ngoài và văn phòng đại diện NHNNg đang hoạt động tại Việt Nam đóng vai trò là cầu nối thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài vào Việt Nam, là kênh truyền dẫn vào Việt Nam những công nghệ ngân hàng hiện đại, những phƣơng pháp quản trị tốt nhất và là nguồn tài chính không nhỏ bổ sung cho thị trƣờng tài chính của Việt Nam. Bên cạnh đó, sự hiện diện của các ngân hàng nƣớc ngoài sẽ làm gia tăng sự cạnh tranh, tạo sức ép buộc các ngân hàng thƣơng mại trong nƣớc phải đổi mới không ngừng, qua đó góp phần thúc đẩy hệ thống ngân hàng Việt Nam phát triển. 1: Mức độ thâm nhập của ngân hàng nước ngoài trên thị trường Việt Nam tỷ lệ tài sản (%) tỷ lệ số lƣợng NH (%) 66,0 61,7 53,9 55,1 56,3 55,0 53,3 44,0 46,2 42,5 40,5 42,5 36,1 40,5 33,3 36,1 33,3 29,7 29,7 19,6 19,6 11,10 2,1 2,6 2,6 2,4 2,0 1,7 1,7 3,9 4,1 4,0 4,4 4,1 0,8 0,7 0,7 1,7 1,9 1,6 1,8 1,0 1,5 1,6 Nguồn: Nguyễn Thanh Phong (2016) Trang 4 Ảnh hưởng của ngân hàng nước ngoài đến rủi ro thanh khoản hệ thống ngân hàng Việt Nam Trong điều kiện khó khăn nhƣ hiện nay của hệ thống ngân hàng, các ngân hàng nƣớc ngoài đang đƣợc Chính phủ và Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam mời gọi tham gia đề án tái cơ cấu hệ thống ngân hàng. Với những chính sách của Chính phủ Việt Nam cùng với ảnh hƣởng của các hiệp định thƣơng mại mà Việt Nam đã/sẽ tham gia, các ngân hàng nƣớc ngoài đang từng bƣớc thay đổi chiến lƣợc kinh doanh của mình.
Trong chiến lƣợc truyền thống của các ngân hàng nƣớc ngoài trên thị trƣờng Việt Nam, khách hàng mục tiêu của họ là các doanh nghiệp FDI, danh thu chủ yếu từ dịch vụ ngoại hối và phí từ các dịch vụ khác. Nhƣng hiện nay, các ngân hàng nƣớc ngoài đang tìm cách tiếp cận với các doanh nghiệp Việt Nam để mở rộng thị phần tín dụng để đa dạng hóa danh mục đầu tƣ.2 Nhìn chung, sau hơn 20 năm thâm nhập thị trường Việt Nam, các NHNNg không ngừng gia tăng sự hiện diện thương mại (thể hiện qua tốc độ tăng số lượng chi nhánh, văn phòng đại diện). Tuy nhiên, quy mô của các NHNNg trên thị trường Việt Nam vẫn còn khá khiêm tốn (năm 2013 tổng tài sản khối ngoại chỉ chiếm 4,1 % .Đến cuối năm 2014, tỷ lệ này tăng lên 10,8 % toàn hệ thống). Vấn đề nghiên cứu Nghiên cứu xem xét mức độ nắm giữ tài sản thanh khoản của ngân hàng nƣớc ngoài và ảnh hƣởng của ngân hàng nƣớc ngoài đến thanh khoản của hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu của nghiên cứu hƣớng đến các vấn đề sau: Nghiên cứu sự nắm giữ thanh khoản của các ngân hàng nƣớc ngoài trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Nghiên cứu sự ảnh hƣởng của các ngân hàng nƣớc ngoài đến thanh khoản hệ thống ngân hàng Việt Nam.vn/suc-ep-tu-ngan-hang-ngoai- chn Trang 5 Ảnh hưởng của ngân hàng nước ngoài đến rủi ro thanh khoản hệ thống ngân hàng Việt Nam 1.