Chương 1: Trình bày các định nghĩa về rủi ro thanh khoản, hiệu quả hoạt động của ngân hàng, cùng cách đo lường các biến kể trên. Nghiên cứu đề 8 cập các lý thuyết giải thích mối quan hệ giữa thanh khoản và hiệu quả hoạt động. (2) Chương 2: Trình bày phương pháp và mô hình nghiên cứu, cách xác định các biến số và kỳ vọng các mối quan hệ. (3) Chương 3: Phân tích thực trạng rủi ro thanh khoản của các ngân hàng và đánh giá thực nghiệm tác động của rủi ro thanh khoản lên hiệu quả hoạt động.
(4) Chương 4: Kết luận và cung cấp các hàm ý chính sách liên quan quản lý rủi ro thanh khoản, hướng đến mục tiêu cải thiện hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại. 9 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO THANH KHOẢN VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về rủi ro thanh khoản của các ngân hàng 1. Định nghĩa thanh khoản của các ngân hàng Ủy ban Basel (2015) định nghĩa thanh khoản là khả năng ngân hàng có thể đáp ứng kịp thời các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh.
Theo nghĩa này, tính thanh khoản thể hiện các yếu tố định tính về sức mạnh tài chính của ngân hàng. Tầm quan trọng của thanh khoản trong các ngân hàng và các tổ chức nhận tiền gửi khác bắt nguồn từ vai trò chính trong việc chuyển các khoản tiền gửi ngắn hạn thành các khoản cho vay dài hạn. Điều này khiến các ngân hàng phải đối mặt với các vấn đề liên quan thanh khoản. Duttweiler (2011) khẳng định thanh khoản thể hiện khả năng đáp ứng tất cả các nghĩa vụ thanh toán quá hạn.
Do thực hiện bằng tiền mặt, thanh khoản chỉ liên quan đến dòng tiền. Nếu không tuân thủ các nghĩa vụ thanh toán sẽ dẫn đến tình trạng thiếu thanh khoản. Dưới góc độ ngân hàng và các tổ chức nhận tiền gửi khác, thanh khoản là khả năng ngân hàng đáp ứng nhanh chóng và toàn diện các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh, như thanh toán tiền gửi, cho vay, các loại hình thanh toán và các giao dịch tài chính khác (Tram và cộng sự, 2021). Các nghiên cứu phân biệt giữa 2 loại thanh khoản: thanh khoản tài trợ (funding liquidity) và thanh khoản thị trường (market liquidity).
Thanh khoản tài trợ đề cập đến khả năng huy động tiền của ngân hàng để tài trợ cho các cam kết dự kiến và không mong đợi với chi phí hợp lý. Nói cách khác, thanh khoản tài trợ đề cập đến khả năng của ngân hàng trong việc thu hút đủ vốn mà không chịu thua lỗ hoặc làm gián đoạn các hoạt động hàng ngày của ngân 10 hàng; trong khi thanh khoản thị trường đề cập đến khả năng của ngân hàng trong việc huy động vốn bằng cách thanh lý tài sản của mình thay vì đi vay. Nếu tính thanh khoản thị trường thấp, việc thanh lý tài sản sẽ được thực hiện với giá thấp hơn dự kiến (Bonner và cộng sự, 2015). Do đó, Kyle (1985) chỉ ra rằng thanh khoản thị trường có 3 dạng: (1) chênh lệch giá mua–giá bán; (2) độ sâu thị trường, hoặc số lượng có thể bán trước khi khiến giá thay đổi; và (3) khả năng phục hồi của thị trường, hoặc thời gian cần thiết để giá cả khi thay đổi có thể khôi phục lại giá trị ban đầu.
Ngoài ra, khi nhắc đến thanh khoản của các ngân hàng, thuật ngữ “trạng thái thanh khoản” hay “vị thế thanh khoản” thường được sử dụng, cho biết tình trạng thanh khoản mà các ngân hàng đang phải đối mặt. Trạng thái thanh khoản ròng được tính bằng chênh lệch giữa tổng cung thanh khoản và tổng cầu thanh khoản tại một thời điểm nhất định: NLP = Tổng cung thanh khoản – Tổng cầu thanh khoản trong đó, cung thanh khoản được hiểu là khả năng các ngân hàng cung cấp các khoản vốn vay cho khách hàng để đáp ứng kịp thời các nhu cầu sử dụng và thanh toán khi cần thiết. Các nguồn cung thanh khoản gồm các khoản huy động tiền gửi của khách hàng, vay mượn từ thị trường tiền tệ, phát hành cổ phiếu, khách hàng thanh toán nợ vay, các khoản thu từ dịch vụ của ngân hàng, các khoản đầu tư tín dụng, các hoạt động bán tài sản, các hoạt động vay mượn khác, v. Trong khi đó, cầu thanh khoản được hiểu là các nhu cầu thanh toán và sử dụng của khách hàng mà ngân hàng phải có nghĩa vụ đáp ứng.
Cầu thanh khoản sẽ làm giảm lượng tiền quỹ của ngân hàng, chẳng hạn các khoản rút tiền gửi tiết kiệm của khách hàng, thanh toán các khoản vay phải trả, các khoản phải trả khác, đề nghị vay vốn của khách hàng, các khoản chi trả cổ tức cho cổ đông, các chi phí hoạt động cho quá trình cung cấp dịch vụ ngân hàng 11 và hoạt động kinh doanh ngân hàng, v. Như vậy, có 3 trạng thái thanh khoản của các ngân hàng: (1) NLP > 0: Ngân hàng sẽ thặng dư thanh khoản khi cung thanh khoản lớn hơn cầu thanh khoản. Tình trạng này xảy ra khi các ngân hàng không phát huy được khả năng sinh lời từ nguồn vốn huy động được, lúc này ngân hàng đánh mất các cơ hội đầu tư sinh lời hoặc cho khách hàng vay vốn để tăng lợi nhuận. Trước khi các nguồn cung thanh toán này tới hạn trong tương lai, nguồn thặng dư thanh khoản có thể được ngân hàng đem đi đầu tư sinh lợi bằng cách: gửi tiền tại các tổ chức tín dụng khác, cho các tổ chức tín dụng khác vay vốn, v.
(2) NLP < 0: Khi cung thanh khoản nhỏ hơn cầu thanh khoản sẽ làm cho ngân hàng thâm hụt thanh khoản. Tình trạng này xảy ra khi các ngân hàng không đủ nguồn vốn đáp ứng nhu cầu chi trả cho các nhu cầu của khách hàng, của nền kinh tế, đánh mất các cơ hội kinh doanh, mất sự tin tưởng của khách hàng. Lúc này, ngân hàng phải tăng nguồn thanh khoản để đáp ứng nhu cầu sử dụng bằng cách sử dụng nguồn dự trữ bắt buộc, vay vốn từ Ngân hàng Nhà nước hoặc các ngân hàng khác, bán các tài sản có tính thanh khoản thấp, v. Tình trạng thâm hụt thanh khoản kéo dài sẽ dẫn đến rủi ro thanh khoản (Tram và cộng sự, 2021).
(3) NLP = 0: Ngân hàng sẽ đạt được trạng thái cân bằng thanh khoản khi cung thanh khoản bằng cầu thanh khoản, lúc này ngân hàng không xảy ra tình trạng dư thừa hay thiếu hụt thanh khoản. Nhưng trên thực tế, trạng thái này rất ít khi xảy ra tại một thời điểm cụ thể, các ngân hàng thường xuyên phải giải quyết các vấn đề về dư thừa hoặc thiếu hụt thanh khoản. Định nghĩa rủi ro thanh khoản của các ngân hàng Định nghĩa của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng chỉ ra rằng rủi ro thanh khoản xảy ra khi một tổ chức tài chính thiếu vốn để đáp ứng các nghĩa 12 vụ của mình mà không xác định được tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh hàng ngày của mình. Do đó, các ngân hàng phải đối mặt với việc không cung cấp đủ tiền mặt cho các nhu cầu thanh khoản tức thời (ví dụ, không thể chuyển đổi tài sản thành tiền mặt hoặc đi vay để đáp ứng nhu cầu thanh toán) hoặc tăng thanh khoản với chi phí cao (Tran và cộng sự, 2019).
Ngoài ra, như đã trình bày, vai trò cơ bản của các tổ chức nhận tiền gửi (kể cả ngân hàng) là chuyển các khoản tiền gửi ngắn hạn thành các khoản cho vay dài hạn. Do đó, các ngân hàng phải đối mặt với các cam kết trên cả hai mặt của bảng cân đối kế toán và những cam kết này đòi hỏi phải có đủ lượng tiền mặt để đáp ứng mà không phải chịu thua lỗ. Trong bối cảnh này, rủi ro thanh khoản đề cập đến việc tổ chức nhận tiền gửi không đáp ứng được các cam kết đề xuất với chi phí hợp lý; nói cách khác, đề cập đến khả năng tổ chức tài chính sẽ tài trợ cho các khoản thanh khoản kém (Bonner và cộng sự, 2015). Với vai trò nền tảng cùng bản chất hoạt động của mình, các ngân hàng phải đối mặt với nhiều vấn đề có thể đe dọa đến khả năng thanh toán.
Những vấn đề này bao gồm rủi ro lãi suất, rủi ro thị trường, rủi ro công nghệ, rủi ro ngoại bảng, rủi ro tín dụng và rủi ro ngoại hối, nhưng không giống như những loại rủi ro này, rủi ro thanh khoản có xu hướng là công việc quản lý hàng ngày của các ngân hàng, vì các ngân hàng được yêu cầu kiểm soát tính thanh khoản và đảm bảo đủ thanh khoản hàng ngày; điều này nhằm trả lại ngay lập tức các khoản tiền gửi đã hứa cho người gửi tiền (hoặc chủ sở hữu tiền gửi) hoặc để đáp ứng tất cả các cam kết cho vay dự kiến. Tuy nhiên, rủi ro thanh khoản vẫn có thể đe dọa khả năng thanh toán của ngân hàng, nếu ngân hàng hoàn toàn không tạo ra được khả năng thanh khoản cần thiết để trả lại các khoản tiền gửi đã hứa (Saunders và cộng sự, 2006). Tuy nhiên, điều này xảy ra trong những trường hợp khắc nghiệt hoặc vào thời điểm khủng hoảng đột ngột. 13 Theo Barros và cộng sự (2014), sự phức tạp của vai trò trung gian tài chính của các ngân hàng làm phát sinh rủi ro thanh khoản.
Các ngân hàng sử dụng các nguồn lực hạn chế để cấp các khoản vay cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng. Hầu hết các nguồn lực được sử dụng bởi các ngân hàng thường gắn với các khoản nợ phải trả dưới hình thức tiền gửi. Vì mục tiêu lợi nhuận, các ngân hàng chuyển nợ (tiền gửi ngắn hạn) sang cho vay trung và dài hạn. Sự không khớp về kỳ hạn đã dẫn đến rủi ro thanh khoản cho các ngân hàng (Diamond và Dybvig, 1983).
Để giảm sự chênh lệch giữa tài sản và nợ để kiểm soát thanh khoản, các ngân hàng có thể nắm giữ các tài sản thanh khoản. Tuy nhiên, chi phí cơ hội của việc nắm giữ các khoản tiền và tương đương tiền (là các loại tài sản thanh khoản) là yếu tố lợi nhuận. Ngân hàng càng có nhiều nguồn vốn (tài sản) thanh khoản để duy trì thanh khoản, lợi nhuận càng giảm, và ngược lại. Do đó, mặc dù các ngân hàng có các biện pháp khuyến khích để duy trì dự trữ thanh khoản (tiền mặt, tài sản ngắn hạn và trái phiếu chính phủ), nhưng việc đảm bảo tính thanh khoản trong quản lý hoạt động là một thách thức (Barros và cộng sự, 2014).