phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về rủi ro và các sản phẩm tài chính quản lý rủi ro cho ngƣời có thu nhập thấp. Chƣơng 2: Thực trạng rủi ro và các sản phẩm tài chính quản lý rủi ro cho phụ nữ nghèo trong các tổ chức TCVM tại Việt Nam. Chƣơng 3: Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển các sản phẩm tài chính quản lý rủi ro trong các tổ chức TCVM tại Việt Nam. z 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ RỦI RO VÀ CÁC SẢN PHẨM TÀI CHÍNH QUẢN LÝ RỦI RO CHO PHỤ NỮ NGHÈO TRONG CÁC TỔ CHỨC TCVM TẠI VIỆT NAM TCVM và hoạt động giảm nghèo tại Việt Nam 1.
Khái quát về hoạt động giảm nghèo 1. Khái niệm: Khái niệm nghèo đói theo tiêu chuẩn chung quốc tế (cũng đƣợc Việt Nam thừa nhận): "Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cƣ không đƣợc hƣởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con ngƣời đã đƣợc xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế – xã hội và phong tục tập quán của các địa phƣơng” [25] b. Tiêu chí xác định Theo tiêu chuẩn quốc tế: - Đói nghèo mức thấp (đói nghèo về lƣơng thực, thực phẩm): dựa vào mức tiêu dùng lƣơng thực, thực phẩm nhằm đảm bảo năng lƣợng tối thiểu quy định chung cho các nƣớc đang phát triển là 2.100calo/ngày/ngƣời [25] - Đói nghèo mức cao (đƣờng đói nghèo chung): gồm cả đói nghèo về lƣơng thực thực phẩm và phi lƣơng thực, thực phẩm [25] Theo tiêu chuẩn của Việt Nam: Việt Nam xác định tiêu chí nghèo dựa trên giá trị thu nhập bình quân đầu ngƣời hàng năm. Cụ thể, theo qui định của Bộ trƣởng Bộ Lao động Thƣơng binh và Xã hội (số 1143/2000/QĐ-LĐTBXH) ngày 1/11/2000 thì chuẩn nghèo áp dụng cho thời kỳ 2001-2005 theo bình quân thu nhập đầu ngƣời là: 80.000đ/ngƣời/tháng ở các vùng hải đảo và vùng núi nông thôn; 100.000đ/ngƣời/tháng ở các vùng đồng bằng nông thôn; 150.000đ/ngƣời/tháng ở khu vực thành thị [25] z 8 1.
Thực trạng nghèo đói a. Tỷ lệ đói nghèo ở nƣớc ta đã giảm mạnh qua các năm nhƣng vẫn còn khá cao và vẫn đƣợc xếp vào nhóm các nƣớc nghèo trên thế giới. Theo kết quả điều tra mức sống dân cƣ (theo chuẩn nghèo chung của quốc tế): Tỉ lệ nghèo đói (%) Năm 1993 1998 2002 Tỷ lệ nghèo đói lƣơng thực 24,9 15 10,9 Tỷ lệ nghèo đói chung 58,1 37,4 28,9 Nguồn: Tổng cục Thống kê Theo chuẩn nghèo của Chƣơng trình XĐGN Việt Nam (giai đoạn 2000-2005) đầu năm 2000 có khoảng 2,8 triệu hộ nghèo (chiếm 17,2% tổng số hộ cả nƣớc); năm 2005 còn khoảng 1,2 triệu hộ (chiếm 8%) [25]. Nhƣng nếu áp dụng theo chuẩn nghèo mới đƣợc thông qua từ 1/1/2006 tƣơng đƣơng với chuẩn nghèo của quốc tế (200.000đ/ngƣời/tháng đối với nông thông và 260.000đ/ngƣời/tháng với khu vực thành thị) thì dự kiến chúng ta sẽ có 4,3 triệu hộ nghèo, tƣơng đƣơng khoảng 27% dân số cả nƣớc [16].
Đói nghèo ở nƣớc ta tập trung ở khu vực nông thôn: Số hộ nghèo ở khu vực nông thôn chiếm 90,5% tổng số hộ nghèo toàn quốc, trong đó: nông thôn miền núi chiếm 28% tổng hộ nghèo toàn quốc; nông thôn đồng bằng chiếm 62,5% tổng số hộ nghèo toàn quốc [25]. Nghèo đói phổ biến trong những hộ có thu nhập thấp và bấp bênh: Một bộ phận lớn dân cƣ nằm giáp ranh mức nghèo do vậy chỉ cần những điều chỉnh nhỏ về chuẩn nghèo cũng khiến họ rơi xuống ngƣỡng nghèo và làm tăng tỉ lệ nghèo. Với điều kiện nguồn lực rất hạn chế (đất đai, lao động, vốn), thu nhập của những ngƣời nghèo (phần lớn từ nông nghiệp) rất bấp bênh và dễ bị tổn thƣơng trƣớc những đột biến của mỗi gia đình và cộng đồng. Nhiều hộ gia đình tuy có mức thu nhập ở trên ngƣỡng nghèo, khi có những dao động về thu nhập cũng có thể khiến họ trƣợt xuống ngƣỡng nghèo.
Nghèo đói tập trung ở vùng có điều kiện sống khó khăn: Đa số ngƣời nghèo sinh sống trong các vùng tài nguyên thiên nhiên rất nghèo nàn, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt nhƣ vùng núi, vùng sâu, vùng chịu ảnh hƣởng lớn của thiên tai, điều kiện thiên nhiên không thuận lợi. Nguyên nhân nghèo đói: Có 3 nhóm nguyên nhân dƣới đây: a. Nhóm nguyên nhân chủ quan từ ngƣời nghèo: Ngƣời nghèo thƣờng thiếu nhiều nguồn lực, họ bị rơi vào vòng luẩn quẩn của nghèo đói và thiếu nguồn lực, nhƣ thiếu vốn hoặc không có khả năng tiếp cận nguồn vốn, thiếu kiến thức, đông con, neo đơn, thiếu sức lao động hoặc không có việc làm, rủi ro, ốm đau, tai nạn, lƣời nhác, mắc các tệ nạn xã hội (cờ bạc, rƣợu chè, nghiện hút. Nhóm nguyên nhân dễ bị tổn thƣơng do ảnh hƣởng của thiên tai và các rủi ro khác: Các hộ gia đình nghèo rất dễ bị tổn thƣơng bởi những khó khăn hàng ngày và những biến động bất thƣờng xảy ra đối với cá nhân, gia đình hay cộng đồng.
Do nguồn thu nhập của họ rất thấp, bấp bênh, khả năng tích luỹ kém nên họ khó có khả năng chống chọi với những biến cố xảy ra trong cuộc sống. Các rủi ro trong kinh doanh đối với ngƣời nghèo cũng rất cao do họ không có trình độ tay nghề và thiếu kinh nghiệm. Nhóm nguyên nhân do tác động của chính sách vĩ mô và chính sách cải cách (tự do hoá thƣơng mại, cải cách doanh nghiệp nhà nƣớc .): nhƣ kinh tế thị trƣờng và sự phân hoá giàu nghèo, chƣa đầu tƣ thoả đáng cho kết cấu hạ tầng, thiếu chính sách ƣu đãi về tín dụng, tạo việc làm. Các hoạt động của Đảng và Chính phủ Việt Nam trong việc hỗ trợ giảm nghèo.
Cùng với việc khuyến khích làm giàu, thì XĐGN là một chủ trƣơng, một quyết sách lớn của Đảng và Nhà nƣớc ta, một trong những mục tiêu đƣợc ƣu tiên hàng đầu trong chiến lƣợc phát triển kinh tế, xã hội đất nƣớc ta trong những năm vừa qua. Để đảm bảo cho việc phát triển kinh tế, xã hội một cách toàn diện, Đảng và Nhà nƣớc phải có những chính sách, chủ trƣơng phù hợp nhằm giảm tỉ lệ nghèo đói trong nhân dân, rút ngắn và tiến tới xoá bỏ hoàn toàn sự phân hoá giàu nghèo. Vấn z 10 đề XĐGN đã đƣợc nhiều lần đề cập tới trong các văn kiện quan trọng của đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Hội nghị lần thứ IX Ban chấp hành TW khoá IX đã nêu rõ định hƣớng về XĐGN trong thời gian tới: “Tiếp tục đẩy mạnh công tác XĐGN, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, chống tái nghèo và giảm nghèo bền vững trên cơ sở tổ chức phối hợp lồng ghép chương trình XĐGN với chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội.
Sớm ban hành cơ chế, chính sách, giải pháp để khuyến khích các tỉnh nghèo, huyện nghèo, xã nghèo, hộ nghèo trên cơ sở đầu tư hỗ trợ của Nhà nước, tự lực phấn đấu vươn lên thoát nghèo đói. Chính phủ đã chính thức đề ra Chƣơng trình XĐGN với tƣ cách là một Chƣơng trình Quốc gia. Các biện pháp đƣợc đề ra gồm có giải quyết vấn đề đất đai cho các hộ nông dân; mở rộng các quỹ tín dụng cho vay vốn với lãi suất ƣu đãi; xây dựng các loại công trình thiết yếu; tạo điều kiện cho các đối tƣợng nghèo đƣợc hƣởng các dịch vụ xã hội; điều tra xác định các hộ nghèo đói do mất khả năng lao động để tiến hành trợ cấp. Để thực hiện xoá đói giảm nghèo, giải pháp cơ bản vẫn là các chƣơng trình phát triển kinh tế xã hội tổng thể ở các địa phƣơng trong cả nƣớc.
Tuy nhiên giải pháp này phải kết hợp với việc tác động trực tiếp tới những đối tƣợng nghèo, hỗ trợ họ về vốn, về tƣ liệu sản xuất, kinh nghiệm sản xuất để tự các đối tƣợng này có thể vƣơn lên, vƣợt qua nghèo đói. Do đó, quan điểm cơ bản khi thực hiện chƣơng trình này là không phải cấp phát, cho không theo kiểu cứu tế, mà là tạo ra các tiền đề để hộ nghèo thoát khỏi tình trạng nghèo đói bằng chính sức lao động của họ, theo đúng quan điểm của ngƣời xƣa: “cho cần câu hơn cho xâu cá”. Mặc dù ngân sách Nhà nƣớc còn hạn hẹp, song Nhà nƣớc đã đầu tƣ cho các chƣơng trình quốc gia phục vụ xóa đói giảm nghèo thông qua chƣơng trình đầu tƣ cơ sở hạ tầng cho các xã nghèo (Chƣơng trình 133, 135). Từ khi có Chƣơng trình xóa đói giảm nghèo (1992) đến năm 2000, Nhà nƣớc đã đầu tƣ thông qua các chƣơng trình quốc gia có liên quan đến mục tiêu xóa đói giảm nghèo khoảng 21.
Riêng trong hai năm 1999 và 2000 gần 9.600 tỷ đồng (Ngân sách nhà nƣớc đầu tƣ trực tiếp cho chƣơng trình 3.000 tỷ đồng; lồng ghép các chƣơng trình, dự án khác trên 800 tỷ đồng; huy động từ cộng đồng trên 300 tỷ đồng; nguồn vốn tín dụng cho vay ƣu đãi hộ nghèo trên 5.500 tỷ đồng) [25] z 11 Ngân hàng phục vụ ngƣời nghèo đã đƣợc thành lập nhằm cung cấp tín dụng ƣu đãi cho ngƣời nghèo. Nguồn vốn huy động của cộng đồng dân cƣ, các tổ chức và cá nhân trong nƣớc cũng tăng đáng kể. Tổng nguồn vốn cho ngƣời nghèo vay đạt 5. Ngoài ra, Nhà nƣớc còn có sự hỗ trợ đáng kể cho đời sống đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn với số tiền trên 70 tỷ đồng và cho gần 90.000 hộ vay vốn sản xuất [25] Với những nỗ lực vƣợt bậc, tỷ lệ nghèo đói chung ở nƣớc ta đã giảm từ trên 70% vào năm 1990 xuống khoảng 32% vào năm 2000 (giảm trên 1/2 tỷ lệ hộ nghèo so với năm 1990) [25].
Về điểm này, Việt Nam đã đạt đƣợc Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ do Quốc tế đặt ra là giảm một nửa tỷ lệ đói nghèo trong giai đoạn 1990-2015. Những vấn đề cơ bản về TCVM tại Việt Nam 1. Giới thiệu chung và bối cảnh ra đời Vào đầu những năm 1990, Chính phủ Việt Nam đã thiết lập Chƣơng trình quốc gia về XĐGN trong đó tín dụng đƣợc nhìn nhận nhƣ một công cụ chiến lƣợc. Hỗ trợ tín dụng từ Chính phủ đƣợc thực hiện thông qua hệ thống ngân hàng truyền thống NHNo&PTNT, thông qua một thể chế cho vay chính sách đƣợc bao cấp NHCSXH 1, thông qua các chƣơng trình tín dụng có định hƣớng, hoặc các dự án hỗ trợ phát triển.