chương 1. 8 CHUÔNG 2: co SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN cứu LIÊN QUAN 2. Các CO’ sỏ' lý thuyết 2. Cơ sở lý thuyết về rủi ro thanh khoản 2.
Khái niệm thanh khoản Thanh khoán là khà năng của ngân hàng trong việc tiêp cận các tài sản hoặc nguồn vốn có thê dùng đô đáp ứng kịp thời các nhu cầu chi trả với mức chi phí hợp lý ngay khi nhu cầu chi trả phát sinh (Ameni, G. Hay nói cách khác, đối với NHTM, thanh khoán là khá năng ngân hàng có thể đáp ứng kịp thời các nghĩa vụ lài chính khi đến hạn với mức chi phí hợp lý. Khá năng thanh khoản cùa ngân hàng thê hiện qua trạng thái thanh khoản rỏng (NLP), còn được gọi là khe hờ thanh khoản, là chênh lệch giừa tông cung thanh khoản và tông cầu thanh khoản tại một thời điôm (Đặng Văn Dân, 2015). Theo đó: NLP = Tổng cung thanh khoán - Tổng Cầu thanh khoan NLP > 0: Là ngân hàng đang ớ trạng thái thặng dư thanh khoan.
NLP < 0: Là ngân hàng đang ờ trạng thái thâm hụt thanh khoản. NLP = 0: Là ngân hàng đang ờ trạng thái cân bằng thanh khoản RRTK cỏ thê được hiếu là rui ro khi NHTM không có khá năng thanh toán tại một thời diêm nào đó, hoặc phái huy động các nguồn vốn với chi phí cao đe đáp ứng nhu cầu thanh toán; hoặc do các nguyên nhân chủ quan khác làm mất khá năng thanh toán cùa NHTM, theo đó nó sẽ kéo theo những hậu quá không mong muốn (Duttweiler, 2009). RRTK hệ thống được hiếu là hiện tượng đồng thời một loạt các ngân hàng hoặc thậm chí là toàn hệ thống NHTM không thế đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn kha dụng cùa mình (IMF, 2011). Một cách khác, RRTK hệ thống của hệ thống NHTM xáy ra khi đồng loại các NHTM gặp rủi ro về thanh khoán.
Tương tự như quan điếm của IMF nhưng trong nghiên cứu Federico, (2012) đưa ra một khái niệm RRTK hệ thống mờ rộng hơn, theo đỏ, RRTK hệ thống xáy ra khi hệ thống ngân hàng không 9 đáp ứng được các nhu cầu thanh toán sắp tới và/ hoặc nhu cầu tăng trường tín dụng chung cua nền kinh tế. Từ những khái niệm trên, có thê rút ra khái niệm RRTK như sau: RRTK là loại rủi ro khi ngân hàng không có khả năng cung ứng đầy đủ lượng tiền mặt cho nhu câu thanh khoản tức thời; hoặc cung ứng đủ nhưng với chi phí cao hoặc không đáp ứng được nhu cầu tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế. Nói cách khác, đây là loại rủi ro xuất hiện trong trường họp ngân hàng thiếu khả năng chi trá do không chuyên đôi kịp các loại tài sản ra tiền mặt hoặc không thê vay mượn đỗ đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán. Theo Nguyền Thị Kiều Nga và Trần Huy Hoàng (2021) RRTK được chia thành hai loại: RRTK thị trường và RRTK tài trợ.
Theo đó, RRTK thị trường (market liquidity risk) là rúi ro khi một ngân hàng không thế bán được tài sản của họ trên thị trường với thời gian nhanh nhất và chi phí thấp nhất. Trong khi đó, RRTK tài trợ (funding liquidity risk) được hiểu là rủi ro khi một ngân hàng không đủ vốn để đáp ứng các yêu câu vê vôn khá dụng của mình. Hai loại RRTK này thường có tác động qua lại với nhau thông qua các thị trường tài chính, từ đỏ có thê gây ảnh hường tới rất nhiều các tô chức tài chính, trong đó có NHTM. RRTK là một trong 3 loại rủi ro trọng yếu của NHTM.
Theo quy định tại khoản 14 Điều 2 Thông tư I3/20I8/TT-NHNN RRTK hình thành do: “(1) NHTM, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ trá nợ khi đến hạn; hoặc (2) NHTM, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có khá năng thực hiện nghĩa vụ trá nợ khi đến hạn nhưng phải trà chi phí cao hơn mức chi phí binh quân của thị trường theo quy định nội bộ của NHTM, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”. Như vậy có thê hiếu như sau: “RRTK là rủi ro phát sinh khi NHTM thiếu khá năng chi trà tại một thời diêm nào đỏ hoặc không chuyển đối kịp thời các loại lài sán ra tiền hoặc không có khả năng huy động hay phải huy động các nguồn vốn với chi phí cao đê đáp ứng nhu cầu thanh toán, điều này dần đến những hậu quá không mong muốn cho ngân hàng”. RRTK xảy ra đông nghía với NHTM đang trong trạng thái thâm hụt thanh khoán 10 (NLP<0). Hay nói cách khác, ngân hàng đang trong tinh trạng thiếu vốn hoạt động, không đủ vốn đê đáp ửng nhu cầu chi trả và cho vay đổi với khách hàng, cũng như nhu câu đâu tư cho nên kinh tê.
RRTK xày ra làm cho NHTM bị tôn thât vê cơ hội đầu tư và anh hưởng xấu đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Cách đo lường rùi ro thanh khoản Theo Nguyên Văn Tiên (2014) rủi ro thanh khoản được đo lường băng các phương pháp sau: a) Phương pháp cung cầu thanh khoản: Thanh khoán ngân hảng có thê phân tích trong khuôn khô cung câu, nghĩa là xác định nhùng nhu cầu chi trá và những nguồn thu của ngân hàng tại một thời điếm nhất định. Trong đó, nhừng nhu cầu chi trá tại thời điểm t gọi là cầu thanh khoán (kỷ hiệu là Dt) và những nguồn tại thời điếm t gọi chung là cung thanh khoán (ký hiệu là St). Cầu thanh khoản (Dt) gồm: Khách hàng rút tiên gửi, nhu câu tín dụng cùa khách hàng, hoàn trá nợ vay, chi phí hoạt động và trá thuế, thanh toán cố tức cho cô đông.
Cung thanh khoán (St) gồm có: Tiền gửi bô sung cùa khách hàng, khách hàng hoàn trà tín dụng, đi vay trên thị trường tiền tệ, thu nhập từ cung cấp dịch vụ, thu nhập từ bán tài sán. Qua phân tích, thấy rằng hình thành nguồn cung và cầu thanh khoăn là rất đa dạng, mối quan hệ giừa tông cung và tông câu thanh khoản tại một thời điếm thê hiện “trạng thái thanh khoán ròng” của ngân hàng. Neu gọi trạng thái thanh khoăn ròng tại thời điểm t là NLPt, ta có: NLPt = St - Dt (2.1) Nêu NLP < 0, nghía là tông cung nhô hơn tông câu thanh khoản và được gọi là thâm hụt thanh khoán. Neu NLP > 0: Ngân hàng phái đổi mặt với nguy cơ thặng dư thanh khoản tức là dư thừa tiền mặt không có lài suất nên ngân hàng cần xác định nên đầu tư hiệu quá các khoán thặng dư thanh khoản này.
11 Trường hợp NLP = 0 thì ngân hàng có trạng thái thanh khoán cân bàng, đây là trạng thái hoàn hào nhưng rất khó đạt được trong thực tế hoạt động cỉia ngân hàng. b) Phương pháp khe hở tài trợ Theo Đặng Văn Dân, (2015) khe hờ tài trợ (FGAP) là (tông dư nợ tín dụng - vốn huy động)/ tống tài sán. Công thức tính FGAP: FGAP = (Tỏng dư nợ tín dụng - vốn huy động)/ tông tài sản (2.2) Neu khe hớ lài trợ là dương thi ngân hàng phải tài trợ phần tín dụng phụ trội băng cách giảm sô dư tiên mặt dự trữ và các tài sán thanh khoán, hay đi vay bô sung trôn thị trường tiền tệ. Do đó, có thế viết: Khe hờ tài trợ = - Tài san có thanh khoản + Tiền vay bố sung (2.3) Hoặc: Khe hớ tài trợ + Tài sán có thanh khoán = Nhu cầu lài trợ (2.4) Trong đó: Nhu cầu tài trợ = Tiền vay bổ sung (2.5) Với cách biêu diễn này, thỉ thanh khoan và những ngụ ý của nhà quán lỷ về nhu cầu tài trợ là: Nhu cầu đi vay bố sung cúa ngân hàng được xác định bời số dư tiền gửi thường xuyên, sổ dư tín dụng thường xuyên, sổ dư tài sán có thanh khoán.
Đặc biệt, đổi với một ngân hàng có khe hờ tài trợ lớn, nhưng lại muốn duy trì nhiều tài sàn có thanh khoán thỉ nhu cầu đi vay bổ sung trên thị trường tiền tệ sẽ càng lớn và cách quàn lỷ này của ngân hàng bộc lộ rủi ro thanh khoản là rât cao. c) Phương pháp chỉ số tài chính Phương pháp tiếp theo lượng hỏa thanh khoán là việc so sánh các chỉ sổ lài chính và nhừng đặc diêm của bảng cân đối tài sàn giữa các ngân hàng có quy mô hoạt động ngang nhau và trên cùng địa bàn. Các chỉ số tài chính so sánh bao gồm: - Chí số trạng thái tiền mặt Trạng thái tiền mặt = (Tiền mặt + Tiền gửi tại các tố chức tín dụng khác)/ Tông 12 tài sản (2.6) Trạng thái tiên mặt = Tiên và các khoản tương đương tiên/ Tông tài sán (2.7) Liquidity Gaps = Logarithm (Tông tài sán - nợ phài trả) (2.8) Nêu chi sô trạng thái tiền mặt cao hàm ỷ ngân hàng có khá năng đáp ứng được các nhu cầu tiền mặt tức thời. - Chi số chứng khoán thanh khoân Chứng khoán thanh khoản = Chứng khoán chính phủ/ Tông tài sán (2.9) Các chứng khoán thanh khoán bao gồm các trái phiếu và tín phiếu kho bạc (gọi chung là chứng khoán chính phủ) là những chứng khoán có độ thanh khoản cao nhất.
Neu chi số chứng khoán càng cao thi ngân hàng xem là có thanh khoản cao. - Chi sổ năng lực cho vay Năng lực cho vay = (Dư nợ tín dụng + Dư nợ cho thuê tài chính)/ Tông tài sản (2.10) Vỉ tín dụng và cho thuê tài chính được xem là những tài sán ít thanh khoản nhất, do đó nếu chỉ tiêu năng lực sử dụng vổn càng lớn thì ngân hàng càng bộc lộ là kém thanh khoán. - Chi số tiền nóng Chỉ số tiên nóng = Tiền nóng bên tài sàn có/ Tiền nóng bên tài san nợ (2.11) Tiền nóng là các loại tài sán nhạy câm với lài suất, thường bao gồm: Tiền mặt, tiền gứi không kỳ hạn, chứng khoán chính phủ ngắn hạn và các tải sản khác có thế chuyên hỏa thành tiền ngắn hạn. Neu chi tiêu tiền nóng cao thi ngân hàng được xem là thanh khoán.
- Chi sô tiên gứi thường xuyên Chỉ sổ liền gửi thường xuyên = Tiền gửi thường xuyên/ Tông lài sán (2.12) Nêu chỉ tiêu “tiên gửi thường xuyên” càng lớn, thi ngân hàng được xem là càng 13 thanh khoán. Chỉ số cấu trúc tiền gửi Chỉ sổ cấu trúc tiền gửi = Tiền gửi không kỳ hạn/ Tiền gửi có kỳ hạn (2.13) Chỉ sổ cấu trúc tiền gứi đo lường tính ồn định cùa cơ sờ tiền gửi của ngân hàng. Neu chí sổ này càng thấp, thì nhu cầu thanh khoán cùa ngân hàng càng thấp. Chi so tín dụng/ tiền gửi Neu một ngân hàng có chi sổ tín dụng/ liền gứi cao, hàm ý ngân hàng đâ dựa chủ yếu vào nguôn vốn ngắn hạn hơn là nguồn vốn dài hạn đê tài trợ tín dụng.