CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LUẬN VÈ QUẢN TRỊ RỦI RO HOẠT ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ RỦI RO HOẠT ĐỘNG TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CO BẢN VÈ RỦI RO HOẠT ĐỘNG TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niêm rủi ro hoat đông Thực tế cho thấy, NHTM luôn phải đối mặt với rất nhiều loại rủi ro trên các lĩnh vực và phạm vi khác nhau như: rủi ro tín dụng,rủi ro hoạt động, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất,. Trong đó, rủi ro hoạt động còn được gọi là rủi ro hoạt động hay rủi ro vận hành, là loại rủi ro có mặt trong hầu hết các hoạt động của ngân hàng nhưng lại khó lường nhất.
Trong những năm qua, các NHTM Việt Nam và trên thế giới đã phải gánh chịu những tổn thất không nhỏ do rủi ro hoạt động, ảnh hưởng rất lớn đến uy tín và tài sản của NHTM. Theo Úy ban Basel về giám sát ngân hàng: Rủi ro hoạt động là nguy cơ ton thất do các quá trình nội bộ không đủ hoặc không hoạt động, do con người và hệ thống; các sự kiện khách quan bên ngoà. Định nghĩa này bao gồm cả rủi ro pháp lý nhưng loại trừ rủi ro chiến lược và uy tín. Như vậy RRHĐ là rủi ro do bốn nhóm yếu tố, đó là: Quá trình, con người, hệ thống, các sự kiện bên ngoài.
Các yếu tố này được hiểu như sau: - Quá trình: là rủi ro do quá trình kinh doanh hoặc quá trình giao dịch không thực hiện được; - Con ngưòi: là rủi ro do tố chức quản lý con người không hiệu quả hoặc do nhân viên không được cư xử đúng mực; - Hệ thống: là rủi ro do hệ thống CNTT/hệ thống truyền thông không đầy đủ hoặc không hoạt động, hoặc do không có hoặc không đủ dữ liệu; 5 - Các sự kiện bên ngoài: là rủi ro do các sự kiện hoặc hành động bên ngoài có tác động xấu lên hoạt động kinh doanh nằm ngoài khả năng kiểm soát lập tức của ngân hàng. Một sổ ví dụ về rủi ro hoạt động là: những hành vi trộm cắp, tham ô, lợi dụng chức vụ của cán bộ, nhân viên để chiếm đoạt tài sản của ngân hàng; lỗi đường truyền dữ liệu làm ảnh hưởng đến việc thanh toán chuyển tiền gửi cho khách hàng hoạt cho chính bản thân ngân hàng; khách hàng cố tình gian lận trong việc cung cấp hồ sơ chứng minh quyền sở hữu tài sản đảm bảo. • Tính chất của rủi ro hoạt động - Rủi ro hoạt động là những rủi ro tiềm ấn: Rủi ro hoạt động gây ra những tổn thất lớn nhưng đôi khi rất khó để xác định được hoặc dự đoán trước được với những dấu hiệu đặc biệt của nó. Những dấu hiệu rủi ro tiềm ẩn có thể dẫn đến tổn thất như: sự thay đổi trong quy trình tác nghiệp hoặc đơn giản như sự trễ nải của nhân viên.
không phải lúc nào cũ ng được quan tâm theo dõi đầy đủ. Tính chất tiềm ẩn của rủi ro hoạt động luôn là một đặc điểm khiến hoặt động quản trị rủi ro gặp nhiều khó khăn trong quá trình triến khai. - Rủi ro hoạt động thường xuyên thay đoi: Rủi ro hoạt động không phải là loại rủi ro có tốc độ thay đổi cùng chiều với sự thay đổi quy mô hoạt động của ngân hàng, đặc biệt nó luôn không on định trong một khoảng thời gian xác định. Phạm vi và thời gian xảy ra những rủi ro hoạt động cũng là rất rộng lớn, rủi ro hoạt động có thể thay đổi rất nhiều và tăng lên nhanh chóng theo cấp số nhân trong một thời gian rất ngắn, các hoạt động nhỏ đôi khi có thể tạo ra mức tổn thất rất lớn.
- Rủi ro hoạt động luôn hiện hữu trong hoạt động của ngân hàng: Tùy theo tính chất phức tạp và quy mô của sản phẩm mà tần suất xảy ro rủi ro hoạt động là nhiều hay ít và rủi ro hoạt động tồn tại trong tất cả các sản phẩm do 6 ngân hàng cung cấp. Do vậy, loại rủi ro này luôn gắn liền với các sản phẩm và hiện hữu trong mọi hoạt động kinh doanh. - Rủi ro hoạt động gắn với các sự kiện: Đây là một trong những đặc điểm nổi bật của rủi ro hoạt động, nằm trong sự tác động qua lại của các hoạt động giao dịch và gắn với nhân tố chủ yếu như con người, hệ thống, quy trình và đặc biệt là các sự kiện bên ngoài tác động nên rủi ro hoạt động luôn được gắn với các sự kiện đien hình được nhìn nhận chung là các sự cố rủi ro trong quá trình hoạt động kinh doanh. - Rủi ro hoạt động có thế gây ra tác động thứ cấp: Các tác động thứ cấp có thể dễ dàng nhận thấy nhất là rủi ro uy tín hoặc pháp lý.
Một ví dụ điển hình là: nếu hệ thống máy ATM của ngân hàng bị hỏng trên diện rộng trong một thời gian dài, gây ảnh hưởng đến giao dịch và cuộc sống của nhiều người thì lòng tin vào hệ thống dịch vụ của ngân hàng đó cũng bị đe dọa. Tổn hại về uy tín xảy ra khó đo lường hơn nhiều so với rủi ro hoạt động và cũng rất nghiêm trọng. Bên cạnh đó, có thể là những rủi ro pháp lý diễn ra trong quá trình hoạt động của ngân hàng khi mà các quy định của pháp luật bị tổn hại mà các nguyên nhân đến từ rủi ro hoạt động. Nguyên nhân và hậu quả của rủi ro hoạt động ủ y ban Basel đã nhấn mạnh trong Basel II về rủi ro hoạt động và ỌTRRHĐ của các NHTM bên cạnh hai loại rủi ro truyền thống là rủi ro tín dụng và rủi ro thị trường.
N guyên nhăn Các nguyên nhân chính có thế dẫn tới rủi ro hoạt động là: - Do con người : nhân viên gian lận, cố ý làm sai, NHTM mất hoặc thiếu nhân lực chủ chốt, phân công nhiệm vụ không đúng, chính sách nhân sự kém; - Quy trình: văn bản, hợp đồng không đầy đủ; việc tuân thủ nội bộ và bên ngoài kém; sản phẩm quá phức tạp hoặc tư vấn tồi); 7 - Hệ thống: đầu tư công nghệ không phù hợp, lỗ hổng an ninh hệ thống, lỗi tích họp từ vận hành hệ thống; - Các yếu tố bên ngoài: cơ sở hạ tầng chung kém, các hành vi tội phạm, việc sử dụng nguồn lực bên ngoài không hợp lý, thiên tai. H ậu quá cuả rủ i ro hoạt động - Giảm vốn kinh doanh: là giảm trực tiếp giá trị tài sản do trộm, lừa đảo, các hành vi không được phép hoặc thua lỗ do mất mát do hoạt động tác nghiệp. - Mất quyền thu hồi: Là khoản tiền phải trả hoặc giải ngân cho các bên không liên quan và không thế thu hồi được. - Bồi thường: là khoản tiền phải trả cho khách hàng gốc và/hoặc lãi bằng cách bồi thường, hoặc chi phí dưới bất kỳ hình thức phạt nào phải trả cho khách hàng.
- Nghĩa vụ pháp lý: là các chi phí xét xử, giải quyết và các chi phí pháp lý khác. - Các quy định và việc tuân thủ như thuế, các khoản phạt hoặc chi phí trực tiếp của bất kỳ khoản phạt nào như thu hồi giấy phép. - Mất tài sản hoặc tổn thất tới tài sản: Giảm trực tiếp giá trị của các tài sản vật chất, bao gồm cả giấy chúng nhận tiền gửi, do tại nạn do thiên tai, hỏa hoạn hoặc động đất. - Giảm uy tín: đối xử với khách hàng không tốt dẫn tới mất uy tín từ đó giảm khách hàng , giảm lợi nhuận 1.
Phân loại rủi ro hoạt động 1. R ủ i ro từ n ội bộ ngăn hàng a. Rủi ro do quy định, quy trình, nghiệp vụ Là rủi ro do quá trình kinh doanh hoặc do quá trình giao dịch không thực hiện được. - Do quy trình có nhiều điểm bất cập, chưa hoàn chỉnh, tạo kẽ hở cho kẻ 8 xấu lợi dụng gây thiệt hại cho ngân hàng.
- Quy trình chưa phù họp, gây khó khăn cho cán bộ ngân hàng trong quá trình tác nghiệp. Rủi ro do cán bộ ngân hàng (do con người) Là rủi ro do tổ chức quản lý nguồn nhân lực không hiệu quả, bao gồm: - Không tuân thủ theo quy định, quy trình nghiệp vụ của NH và các văn bản pháp luật hiện hành. -Thực hiện các nghiệp vụ, nhiệm vụ không được uỷ quyền hoặc phê duyệt vượt quá thẩm quyền cho phép. - Không chấp hành nội quy cơ quan, Họp đồng lao động và các văn bản pháp luật đối với người lao động nơi công sở.
- Có hành vi lừa đảo và/hoặc hành động phạm tội, câu kết với đối tượng bên ngoài gây thiệt hại cho NH. Rủi ro từ hệ thống công nghệ thông tin - Hệ thống công nghệ thông tin hay hệ thống truyền thông không đầy đủ, không hoạt động. - Do dữ liệu không đầy đủ hoặc hệ thống bảo mật thông tin không an toàn. - Do thiết lập hệ thống không phù họp, gián đoạn của hệ thống (xử lý, truyền thông, thông tin) và/hoặc do các phần mềm, các chương trình hồ trợ cài đặt trong hệ thống lỗi thời, hỏng hóc hoặc không hoạt động.
Rủi ro từ các hệ thống hỗ trợ khác - Do thiếu các hệ thống dự phòng, kế hoạch khôi phục kinh doanh trong trường hợp xảy ra các thảm họa, thiên tai, bất trắc, đột biến. - Do việc chỉ đạo, hướng dẫn và hỗ trợ chưa kịp thời, chưa hiệu quả hoặc chồng chéo gây khó khăn, ách tắc cho bộ phận nghiệp vụ. -D o cơ chế, quy chế về công tác hỗ trợ chưa phù hợp, chưa đáp ứng được các yêu cầu hỗ trợ cho bộ phận nghiệp vụ. R ủ i ro d o c á c tá c đ ộ n g b ê n n g o à i Là rủi ro do các sự kiện hoặc hành động bên ngoài có những tác động xấu lên hoạt động kinh doanh nằm ngoài khả năng kiểm soát lập tức của ngân hàng: - Rủi ro do các văn bản, quy định của Chính phủ, các ban ngành liên quan.
- Rủi ro do hành vi lừa đảo, trộm cắp và/hoặc phạm tội của các đối tượng bên ngoài Ngân hàng. - Rủi ro do các sự kiện bên ngoài: tự nhiên, môi trường. Mối liên hệ của rủi ro hoạt động vói các loại rủi ro khác Trong hoạt động ngân hàng, tuy rủi ro hoạt động xảy ra rất nhiều ở các bộ phận tác nghiệp nhưng về bản chất, nó tồn tại ở tất cả các bộ phận trong ngân hàng, trong mọi hoạt động hàng ngày và có thể phát sinh từ bất kỳ cá nhân, đơn vị nào của ngân hàng. Do đó, rủi ro hoạt động có tác động và ảnh hưởng đến hầu hết các loại rủi ro khác.