Chương 1 đã trình bày khái quát các vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu bao gồm tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu, đối tượng phạm vi và phương pháp nghiên cứu cũng như kết cấu của đề tài. Để cung cấp một cái nhìn tổng quan về đề tài, chương này đã đưa ra định hướng cụ thể giúp người đọc dễ dàng nắm bắt trọng tâm của toàn bộ bài khóa luận. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG 2.
Khái niệm về thanh khoản của ngân hàng thương mại Theo Basel (2008), ‘‘thanh khoản là thuật ngữ nói về khả năng vừa đáp ứng được các nghĩa vụ nợ đến hạn khi gia tăng quy mô tài sản mà không bị tổn thất thiệt hại quá mức”; hoặc có thể hiểu rằng đó chính là “nguồn vốn được huy động với chi phí thấp trong thời gian ngắn, có tính thanh khoản cao tương ứng với nguồn tài sản có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt với chi phí thấp và một cách nhanh chóng’’ (Trương Quang Thông, 2012). Từ đó đánh giá khả năng của ngân hàng nhằm thoả mãn nhu cầu thanh toán của khách hàng bao gồm: nhu cầu tiền mặt, các khoản tín dụng cam kết giải ngân, thanh toán và các nhu cầu dịch vụ khác (Nguyễn Văn Tiến 2010). Từ những định nghĩa nêu trên, tác giả bổ sung thêm: ‘‘thanh khoản là khả năng đáp ứng nhu cầu thanh toán cùa ngân hàng cho khách hàng một cách nhanh chóng với mức lãi suất phù hợp, bằng cách quy đổi tài sản sang tiền hoặc huy động từ nhiều nguồn.’’ Khi NH đứng trước nhu cầu thanh toán, tín dụng, huy động đối với KH thì khái niệm thanh khoản chỉ được nêu rõ. Khi ấy, NH không những cần cân bằng nguồn tiền sẵn có với nhu cầu tiêu thu mà còn phải cân bằng với khả năng thu hồi vốn sau này.
Do đó, NH phân tích mối quan hệ giữa nguồn vốn và nhu cầu vốn qua các thời kỳ là việc cần thiết. Trong phân tích Lê Thị Tuyết Hoa (2012), cung thanh khoản và nhu cầu thanh khoản được cấu thành bằng: Cung thanh khoản được cấu thành bởi nhiều nguồn khác nhau, đó chính là các nguồn tiền có sẵn hoặc sẽ có trong thời hạn ngắn để nhà băng có thể quản lý như: Tiền huy động từ KH, thu hồi tín dụng của KH, vay mượn trên thị trường và tiền thông qua chuyển nhượng cổ phiếu và bán chứng khoán. Cầu thanh khoản là nhu cầu muốn được thanh toán và rút tiền tiết kiệm từ NH thông qua các nhân tố như nhu cầu gửi tiết kiệm từ KH, nhu cầu vay mượn 8 tiền của KH, chi trả lãi suất cho khoản tiền gửi, chi trả lãi suất và cung cấp tín dụng cũng như thanh toán cổ tức bằng tiền cũng là nhu cầu thanh khoản. Thanh khoản ròng Giá trị thanh khoản ròng (NLP) được tính theo hiệu số giữa tổng cung thanh khoản và tổng cầu thanh khoản.
NLP = Tổng cung thanh khoản – Tổng cầu thanh khoản Trong đó: - Khi NLP <0: NH không có tiền để tiến hành giao dịch với KH, nghĩa là NH đang thiếu hụt thanh khoản. Khi ấy NH có thể xem xét bù đắp thiếu hụt thông qua một trong những biện pháp như: vay liên NH, mua tín phiếu tại NHNN, mua trái phiếu… - Khi NLP> 0: NH đang thặng dư thanh khoản. Trong khi nếu thặng dư càng cao, đồng nghĩa với việc NH đang thiếu hụt một khoản tiền không nhỏ, điều này hay gặp tại các NH làm ăn không hiệu quả. Khi ấy NH phải tăng cường tìm kiếm những đối tượng muốn đi vay ví dụ như vay từ tổ chức tín dụng quốc tế hoặc mua lại những trái phiếu đã đáo hạn… - Khi NLP = 0: NH có tình trạng thanh khoản ổn định, đây là trạng thái lý tưởng mà bất kỳ NH cũng khó lòng mà có được.
Rủi ro thanh khoản ngân hàng thương mại 2. Khái niệm Rủi ro thanh khoản ngân hàng thương mại. Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro phổ biến trong tình huống khi ngân hàng mất khả năng chi trả, không chuyển đổi được các loại tài sản sang tiền hoặc không có khả năng chi trả nhằm đáp ứng điều kiện của hợp đồng thanh toán1. Với khả năng đáp ứng nghĩa vụ của NH đối với người gửi tiền tại NH họ cũng như khả năng chuyển đổi tiền gửi sang tiền mặt khi cần thiết.
Dưới sự quản lý và giám sát của NH trung ương, những dòng tiền phải được luân chuyển theo sự sẵn có của hệ thống tiền tệ quốc gia nhằm giữ được sự ổn định của NH. Đối với các NHTM nói riêng và các tổ chức tín dụng nói chung thì RRTK là một loại rủi ro nghiêm 1 Nguyễn Đăng Dờn, “Quản trị ngân hàng thương mại hiện đại, Nxb Phương Đông, 2010.” 9 trọng bậc nhất. Trong thực tiễn có không hiếm tình huống, một tổ chức tín dụng có tài sản lớn, dư nợ tín dụng thấp vẫn rất có thể vỡ nợ vì mức độ RRTK của tài sản không thể bù đắp được khả năng thanh toán tại thời điểm đó. Có thể chia RRTK làm 3 loại căn cứ theo nguyên nhân ảnh hưởng tới RRTK của từng NHTM: RRTK từ tài sản nợ khi NHTM không sẵn có nguồn vốn đảm bảo thanh toán, chi trả trong tình huống KH rút tiền gửi trước hoặc đến hạn.
Với một số lượng tiền gửi được KH rút quá nhiều một cách bất ngờ đòi hỏi các NHTM phải huy động vay đột xuất trên thị trường, phải huy động vốn bổ sung với lãi suất cao, cần bán bớt tài sản nhằm chuyển đổi sang vốn khả dụng đáp ứng nhu cầu chi trả. NHTM có thể phải bán tài sản với giá thấp hơn giá trị thị trường hoặc vay với lãi suất cao nhằm có lượng vốn khả dụng dồi dào để đáp ứng nhu cầu chi trả. RRTK từ tài sản có khi ngân hàng phải bảo đảm khả năng thanh khoản nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong trường hợp KH vay đòi hỏi NHTM thực thi các cam kết tín dụng, nếu không thực hiện được NH sẽ phải đối mặt với rủi ro. NHTM sẽ phải bổ sung các nguồn vốn mới với lãi suất cao hoặc bán tài sản với giá trị thấp vì rủi ro xuất phát từ tài sản nợ.
RRTK xuất phát từ thị trường ngoại bảng. Với tốc độ tăng trưởng nhanh chóng của thị trường sản phẩm tài chính phái sinh, RRTK đến từ thị trường ngoại bảng cũng ngày một tăng. Khi có phát sinh rủi ro thanh toán bất ngờ xảy đến từ việc cam kết bảo đảm, nghĩa vụ thanh toán các hợp đồng phái sinh, hợp đồng kỳ hạn hay hợp đồng quyền lựa chọn. Nhu cầu thanh khoản sẽ gia tăng khi các hợp đồng tài chính đến hạn.
Nếu không có sự dự trữ nguồn thanh khoản cần thiết, NHTM có thể phải đối diện với RRTK, vì không có những tài sản hữu hình hay có thể chuyển đổi sang tiền, hoặc tài sản có thể trao đổi trên thị trường. Nguyên nhân dẫn đến Rủi ro thanh khoản ngân hàng thương mại Ở giai đoạn hiện nay, các nhà nghiên cứu thuộc ngành tài chính ngân hàng đã xác định 4 nguyên nhân liên quan đến rủi ro đối với tính thanh khoản của các NHTM. Thứ nhất là sự phát triển tín dụng quá nóng. Sự phát triển tín dụng quá 10 nhanh của các NHTM đi liền với cơ cấu tín dụng không cân đối, đầu tư mạnh vào lĩnh vực bất động sản chạy theo lợi nhuận sẽ nảy sinh rủi ro cao khi thị trường đóng băng, tạo sự bất cân xứng về kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản không vì NH đã dùng rất lớn nguồn vốn ngắn hạn để cho vay dài hạn.
Chính điểm này đã tạo ra sự RRTK cao cho NHTM. Thứ hai là vì tính liên kết NH ở các NHTM nhằm bảo đảm an toàn thanh toán rất kém, tạo sự cạnh tranh không lành mạnh, đẩy lãi suất tăng cao tạo kẽ hở cho phép KH vay tiền ‘‘làm giá, tăng lãi suất” hoặc rút tiền chuyển qua các NHTM khác dẫn đến sự suy giảm năng lực chịu đựng về thanh khoản của hệ thống. Thứ ba là việc quản trị thanh khoản ở các NHTM không hiệu quả. Do sự yếu kém từ quản trị tài sản nợ, có của từng NHTM cùng sự thiếu vắng của các biện pháp quản trị hiệu quả…Để thực hiện yêu cầu của mình, NHNN cũng không thể kiểm soát được tình trạng thanh khoản cũng như sự biến động lớn trong tài sản của từng NHTM.
Thứ tư là sự bức xúc từ phía KH, cũng được coi là những lý do khiến cho NH khó có thể sử dụng công cụ thị trường nhằm kiểm soát có hiệu quả thanh khoản của từng NH. Trong điều kiện thông tin không thống nhất, thị trường kém minh bạch, một số KH (nhất là cá nhân) đã rút tiền trực tiếp tại NH mình và chuyển khoản sang NH khác, thậm chí rút tiền để mua vàng, mua đô la Mỹ nhằm tích trữ. đã góp phần gia tăng tính bất ổn của thị trường, nội và ngoại tệ, gây thiệt hại cho quý KH đã và đang sử dụng dịch vụ gửi và rút tiền ngoại tệ tại ngân hàng. Ngoài những nguyên nhân trên, cũng có nhiều nguyên nhân khác như việc phần lớn các giao dịch bằng ngoại tệ tại các NHTM Việt Nam chủ yếu tập trung vào một loại ngoại tệ là USD và bị chi phối nhiều bởi các chỉ số rủi ro khác của hệ thống NH cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến RRTK do hiện tượng một số tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước gửi ngoại tệ hoặc rút tiền với số lượng nhiều gây khó khăn trong công tác giám sát và quản lý rủi ro… 11 2.
Tác động của rủi ro thanh khoản Kết quả kinh doanh của ngân hàng bị ảnh hưởng từ rủi ro thanh khoản Ngân hàng phải huy động một số vốn nhất định để đảm bảo nghĩa vụ chi trả và giải ngân khi RRTK xảy ra bằng việc NH thanh lý bất động sản với mức định giá thấp hơn so với giá trị thị trường, mức chênh lệch sẽ gây nên khoản phí tổn lớn đối với NH. Kết quả sản xuất kinh doanh của NH sẽ bị giảm sút hoặc gây thiệt hại đối với NH nếu điều này liên tục xảy ra. Ngân hàng bị mất lòng tin ở khách hàng vì rủi ro thanh khoản Bất cứ NH nào cũng cần đưa chất lượng dịch vụ - sản phẩm, thương hiệu và uy tín của NH lên trên hết. Lòng tin ở KH giảm xuống do RRTK xảy đến, khiến kết quả kinh doanh của NH bị tụt lùi và kéo theo mất cơ hội thu hút vốn từ KH và điều đó sẽ liên tục kéo khả năng thanh khoản của NH lên xuống theo một vòng luẩn quẩn.