Chương 1: Giới thiệu Nội dung chính của chương này nêu lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vị nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, kết cấu của luận văn và ý nghĩa của đề tài nghiên cứu. 7 Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các công trình nghiên cứu trước Nội dung chương này sẽ đưa ra tổng quan về lý thuyết, cụ thể là tổng quan về rủi ro thanh khoản. Trong đó làm rõ các khái niệm cơ bản về rủi ro, rủi ro thanh khoản, nguyên nhân của rủi ro thanh khoản. Đưa ra các chỉ số đánh giá rủi ro thanh khoản.
Nêu tổng quan các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của NHTMCP tại Việt Nam thông qua một số chỉ tiêu xác định (ROE, ROA, NIM). Cụ thể hóa tác động của rủi ro thanh khoản đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại thông qua lược khảo các nghiên cứu trước đây. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này nói về mô hình nghiên cứu, dạng của mô hình nghiên cứu và các phương pháp để xử lý dữ liệu nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Nội dung chủ yếu là trình bày mô hình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, kết quả mô hình: thống kê mô tả mẫu nghiên cứu, phân tích tương quan mô hình nghiên cứu, kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến, kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi, kiểm định hiện tượng tự tương quan.
Từ đó, thảo luận kết quả nghiên cứu nêu ra những mặt đạt được và hạn chế trong công tác hạn chế tác động của rủi ro thanh khoản đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách nhằm hạn chế tác động của rủi ro thanh khoản nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu 2.
Tổng quan về rủi ro thanh khoản Rủi ro là một yếu tố không may xảy ra trong tương lai, luôn gắn liền với mọi hoạt động của cuộc sống và cộng đồng (Alshatti, 2015). Rủi ro trong hoạt động động kinh doanh là những điều không như kì vọng xảy ra trong tương lai, kết quả có thể gây tổn thất về giá trị tài sản, sự giảm sút tỷ suất sinh lời, ảnh hưởng tới mục tiêu tài chính thực tế so với dự kiến. Thanh khoản là khả năng chuyển đổi nhanh và rẻ các tài sản sang tiền mặt (Vento & LaGanga, 2009). Một tài sản có tính thanh khoản cao nếu tổ chức sở hữu có thể nhanh chóng chuyển đổi nó sang tiền mặt với một chi phí thấp.
Như vậy, nếu thời gian chuyển sang tiền mặt nhanh nhưng đánh đổi với chi phí lớn thì tính thanh khoản của tài sản không cao. Tính thanh khoản của ngân hàng thương mại được xem như khả năng đáp ứng những nhu cầu tức thời về tiền của NHTM như rút tiền gửi và giải ngân các khoản tín dụng đã cam kết, chi trả chi phí hoạt động hay những nhu cầu cần phải thanh toán bằng tiền khác (Amengor, 2010). Trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, thanh khoản là một thuật ngữ chuyên ngành được dùng để nói về khả năng đáp ứng các nhu cầu về vốn khả dụng phục vụ cho hoạt động kinh doanh tại mọi thời điểm như chi trả tiền gửi, giải ngân cho vay, thực hiện chuyển khoản thanh toán… Nếu một NHTM mất khả năng hoặc đáp ứng không kịp thời các nhu cầu này thì có thể nói NHTM sẽ phải chịu tổn thất cũng như chi phí cao, từ đó dễ dẫn đến rủi ro thanh khoản. Theo sách Commercial banking – the management of risk, Benton E.Gup thì: Rủi ro thanh khoản là rủi ro về tổn thất phát sinh từ trạng thái thiếu hụt tiền mặt hoặc tài sản tương đương tiền, hay đặc biệt hơn là rủi ro về tổn thất phát sinh từ trạng thái thiếu khả năng thu xếp được nguồn tài trợ với mức độ hợp lý về chi phí, 9 bán hay thu xếp một tài sản với mức giá hợp lý, nhằm trang trải một nghĩa vụ đã được dự định hoặc bất định.
Cung thanh khoản bao gồm: Tiền mặt, tiền gửi tại NHNN, tiền gửi tại các TCTD khác, thu nhận tiền gửi từ khách hàng, khách hàng vay hoàn trả các khoản gốc và lãi, vay từ thị trường liên ngân hàng, thu từ các khoản nợ phải thu khác. Cầu thanh khoản bao gồm: Hoàn trả tiền gửi cho khách hàng, giải ngân các khoản tín dụng cho khách hàng, hoàn trả các khoản đi vay, chuyển tiền thanh toán theo yêu cầu của khách hàng, chi các khoản chi phí hoạt động, chi trả các khoản nộp Ngân sách Nhà nước (Thuế, phí, lệ phí…), trả cổ tức (NHTM cổ phần), chi trả các khoản nợ khác. Nếu cung thanh khoản > Cầu thanh khoản thì NHTM đang ở trạng thái thặng dư thanh khoản. Nếu cung thanh khoản < Cầu thanh khoản thì NHTM đang ở trạng thái thâm hụt thanh khoản và đang phải đối mặt với nguy cơ xảy ra rủi ro thanh khoản.
Theo Uỷ ban giám sát các ngân hàng Châu Âu (2007) thì rủi ro thanh khoản là sức ép tăng vốn bằng tiền với một chi phí hợp lý (cung thanh khoản) đối trọng lại với cầu thanh khoản. Rủi ro thanh khoản là rủi ro xuất hiện khi ngân hàng không có đủ các nguồn tài chính để thanh toán các nghĩa vụ nợ vào thời điểm đến hạn hoặc là phải sử dụng những nguồn tài chính với chi phí cao mặc dù ngân hàng vẫn có khả năng thanh toán (Vento & LaGanga, 2009). Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (2000) đơn giản định nghĩa tính thanh khoản là khả năng tài trợ cho sự gia tăng tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ khi chúng đến hạn. Theo TT13/2018/TT-NHNN định nghĩa Rủi ro thanh khoản là rủi ro do: Ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn; hoặc Ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn nhưng phải trả chi phí cao 10 hơn mức chi phí bình quân của thị trường theo quy định nội bộ của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Như vậy, cho dù là khái niệm chung hay chi tiết về từng loại thì rủi ro thanh khoản là rủi ro mà một tổ chức tài chính nói chung và ngân hàng nói riêng không có đủ nguồn lực tài chính để thực hiện thanh toán theo các cam kết khi cần. Hoặc tổ chức tài chính này có thể xoay sở đủ nguồn lực tài chính cần thiết nhưng phải đánh đổi một chi phí hay khoản lỗ lớn khi bán các tài sản. Hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ và cung ứng các dịch vụ tài chính, các ngân hàng thương mại chịu áp lực rất lớn trong việc quản lý thanh khoản nhằm đảm bảo mục tiêu lợi nhuận và tự bảo vệ mình trước các rủi ro, đặc biệt là rủi ro thanh khoản - vốn là nguyên nhân chính dẫn đến phá sản hàng loạt của ngân hàng tại nhiều quốc gia trên thế giới. Một ngân hàng hoạt động bình thường phải đảm bảo được khả năng thanh toán, tức là phải đáp ứng được các nhu cầu thanh toán trong hiện tại, tương lai và các nhu cầu thanh toán đột xuất.
Một khi rủi ro thanh khoản xuất hiện thì không chỉ nó ảnh hưởng đến bản thân NHTM mà còn ảnh hưởng đến cả một nền kinh tế - xã hội. Nguyên nhân của rủi ro thanh khoản Rủi ro thanh khoản có thể bắt nguồn từ 2 phía: các yếu tố vĩ mô tồn tại bên ngoài và chính sách điều hành – nội sinh (Alshatti1, 2015) Như chúng ta đã biết, NHTM là một định chế tài chính trung gian huy động nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội và sử dụng chúng để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế và cá nhân với mục đích phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, trên thực tế, không phải lúc nào NHTM cũng huy động được nguồn vốn có kỳ hạn dài mà chủ yếu chỉ là nguồn vốn ngắn hạn hoặc không kỳ hạn. Trong khi đó, phần lớn những khoản cho vay hay đầu tư lại có kỳ hạn dài hơn.
Đây là nguyên nhân dẫn đến sự bất cân xứng về ngày đáo hạn của các tài sản nợ và tài sản có, khiến cho các NHTM luôn phải đối mặt với tình trạng thâm hụt. Tình trạng này xảy ra khi dòng tiền thu hồi từ các khoản đầu tư không đủ để chi trả cho các khoản tiền gửi đến hạn. Rủi ro 11 thanh khoản cũng có thể xảy ra do sự chuyển hóa tiền gửi ngắn hạn thành những khoản cho vay dài hạn (Basel Committee on Banking Supervision, 2008) Bên cạnh đó, nguồn tiền gửi từ các khách hàng gửi rất nhạy cảm với sự thay đổi lãi suất trên thị trường tài chính. Khách hàng gửi tiền có xu hướng rút tiền gửi của họ ở NHTM có lãi suất thấp và tìm kiếm NHTM khác có lãi suất huy động cao hơn.
Trong khi đó, những khách hàng có nhu cầu tín dụng sẽ tìm cách trì hoãn việc hoàn trả các khoản nợ đã đáo hạn có lãi suất thấp, tìm cách trả trước hạn hoặc trì hoãn việc rút vốn vay với mức lãi suất đã thỏa thuận với NHTM có lãi suất cao. Như vậy, biến động lãi suất không chỉ ảnh hưởng đến cả người gửi tiền và người vay tiền tức dòng tiền vào, dòng tiền ra và sau đó là đến thanh khoản của NHTM. Bên cạnh việc ảnh hưởng đến xu hướng hành động của người gửi tiền, người vay tiền, lãi suất đầu tư còn ảnh hưởng đến giá thị trường của các tài sản mà ngân hàng có thể bán để tăng cung thanh khoản và trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí vay mượn trên thị trường tiền tệ. Sự gia tăng nhu cầu của người gửi tiền có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản và gây ra tổn hại cho ngân hàng và thậm chí là cả hệ thống ngân hàng do hiệu ứng dây chuyền (Diamond & Rajan, 2005).
NHTM kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ hết sức nhạy cảm và kinh doanh dựa trên niềm tin của khách hàng. Nếu niềm tin của công chúng bị lung lay, họ sợ rằng, ngân hàng nơi mình gửi tiền cũng có thể phá sản nên tìm mọi cách để rút tiền khỏi ngân hàng đó thì có thể dẫn đến việc ngân hàng mất khả năng thanh toán chỉ trong một thời gian ngắn và khiến cả hệ thống ngân hàng rơi vào tình trạng hỗn loạn.