Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu (2) Chương 2: Cơ sờ lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm (3) Chương 3: Phương pháp nghiên cứu (4) Chương 4: Kct quá nghiên cứu (5) Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị 5 CHUÔNG 2: cơ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC BÀNG CHÚNG THỤC NGHIỆM 2. Co' sỏ' lý luận chung 2. Cơ sở lý luận về khả năng sinh lời Khả năng sinh lời (profitablity) là sự kết hợp cua 2 từ “kha năng" và “sinh lời", đề cập đến khá năng tô chức kinh doanh duy trì lợi nhuận hàng năm (Mcnicucci và Paolucci, 2016). Tương tự, Elseoud và cộng sự (2020) định nghía khả năng sinh lời là khá năng mà tố chức kinh doanh tạo ra được lợi nhuận dựa trên cơ sờ vốn cúa ngân hàng.
Hiệu suât sinh lời của các ngân hàng cho thấy sự thành công cùa ban quán lý, và là một trong các chí sổ hiệu suất quan trọng nhất đối với các nhà đầu tư. Các thay đôi vẻ khả năng sinh lời góp phân vào tiên bộ kinh tê, vì khả năng sinh lời ảnh hưởng đến quyết định đầu tư và tiết kiệm của các tố chức kinh doanh. Điều này là do khả năng sinh lời tăng lên sẽ cái thiện vị thê dòng tiên của các tô chức kinh doanh và mang lại sự linh hoạt tài chính cao hơn (thông qua lợi nhuận giừ lại). Viộc tiếp cận tài chính dê dàng hơn sẽ tạo điêu kiện thực hiện các khoản đâu tư lớn giúp cái thiện năng suất, khá năng cạnh tranh và việc làm.
Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây sư dụng nhiều thước đo khác nhau đẻ đo lường khá năng sinh lời của ngân hàng, bao gồm ROE (được tính bằng tỷ so lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu), ROA (được tính bằng tỷ số lợi nhuận ròng trên tống tài sàn của ngân hàng) và NIM (được tính bằng tý sổ thu nhập lài ròng trên tống tài sán). Thước đo ROE thể hiện lợi nhuận ròng của vổn đầu tư từ các cổ đông, trong khi thước đo ROA thê hiộn lợi nhuận ròng tương đối do tông tài sán cùa ngân hàng tạo ra và được coi là thước đo tinh hiệu quả quán lý. So với ROE, việc sứ dụng ROA có tính đốn các rủi ro phát sinh từ đòn bây và là thước đo khá năng sinh lời chủ yếu của ngân hàng (Athanasoglou và cộng sự, 2005). Một nhược diêm của ROA là sự tôn tại của tài sản ngoại bàng, là nguồn lợi nhuận quan trọng đối với các ngân hàng, nhưng không được xem xét khi tính toán thước đo này.
Vì vậy, Goddard và cộng sự (2004) cho rằng việc sử dụng ROE là phù hợp hơn. Ngoài ra, một sổ nhận định cho rằng việc sử dụng giá trị trung bình hàng năm của vôn chủ sở hữu và tài sàn ở mâu sô sẽ chính 6 xác hơn giá trị cuối năm. Do đó, Suíìan và Habibullah (2009), Jigeer và Koroleva (2023) sử dụng lợi nhuận trên tài sản trung bình (ROAA) và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu trung binh (ROAE) làm thước đo khả năng sinh lời. Tổng quan tù' các tài liệu thực nghiệm (Athanasoglou và cộng sự, 2008; Batten và Vo, 2019; Dietrich và Wanzenried, 2014; Trujillo-Ponce, 2013; O'Connell, 2022), các yếu tổ ánh hường khá năng sinh lời của các ngân hàng có thê được phân loại thành 3 nhóm chính: (i) các yêu lô đặc diêm ngân hàng, (ii) đặc diêm thị trường và (iii) kinh tế vĩ mô.
Các yếu tố đặc điểm ngân hàng có thê là chất lượng tài sán (rủi ro tín dụng), quy mô tài sân, đa dạng hóa thu nhập, tính hiệu quả chi phí, tăng trường tín dụng, quy mô tiền gửi, V.; yếu lổ đặc điểm Ihị trường có thê là mức độ cạnh tranh, mức độ lập trung thị trường, V.; trong khi các yếu tổ kinh tế vì mô gôm tăng trường kinh tế, lạm phát, v. Cư sớ lý luận về phát triển tài chính Theo định nghía cùa Ngân hàng Thế giới (2020), khu vực tài chính là lập hợp các tô chức, công cụ, thị trường cùng khuôn khô pháp lỷ và quy định cho phép thực hiện các giao dịch lài chính. Tuy vậy, việc thực hiện các giao dịch tài chính lại phát sinh các chi phí, do các khiếm khuyết của thị trường gây ra. Các thị trường nói chung và Ihị trường tài chính nói riêng là không hoán hão, và điều này làm phát sinh các khoản chi phỉ như chi phí thu thập và xứ lý thông tin về các khoản đầu tư tiềm năng, chi phí soạn thảo, phiên dịch và thực thi họp đồng, chi phí lien quan đen giao dịch hàng hóa, dịch vụ và các công cụ tài chính (Levine, 2005).
Các khoản chi phí tốn kém này ngăn cản dòng tiền tiết kiộm của xã hội đến các dự án kinh doanh và đầu tư tốt, và vì vậy làm chậm quá trình phát triển kinh tế. Theo Cihák và cộng sự (2012), sự tồn tại của chi phí trong giao dịch tài chính tạo động lực cho sự xuất hiộn của các hợp đông, thị trường và trung gian tài chính. Từ đó, các sán phâm tài chính được lạo ra đê giám thiếu ãnh hướng của các bất hoàn háo thị trướng và giám chi phí giao dịch. Tír quan điểm chi phí giao dịch, Levine (2005) đưa ra khái niệm phát triển tài chính ờ cấp độ cơ bản như sau: “sự phát triên của khu vực tài chính diễn ra khi các công cụ, thị trưởng và trung gian tài chính giám thiêu (nhưng không phái loại bỏ hoàn toàn) 8 hệ thống tài chính.
Các cách tiếp cận khái niệm phát triên tài chính ngày càng cố gắng phãn ánh nhiều hơn các thông tin của hệ thống lài chính. Tuy nhiên, khu vực tài chính rộng lớn và luôn có sự đôi mới. Vì vậy, không dề dàng đê thê hiện được toàn diện tất cã các đặc diêm, chức năng cúa hệ thống tài chính trong một định nghĩa duy nhất về phát Irion tài chính. Các thước đo phát triển tài chính 2.
Thước đo riêng lẻ Đo lường phát triển tài chính không phai là việc dề dàng. Vì sự đa dạng của hệ thông tài chính, đòi hỏi việc xem xét nhiêu khía cạnh đê đo lường phát triên tài chính (Svirydzenka, 2016). Các nghiên cứu gần đây sử dụng nhiều thước đo khác nhau đê đo lường các khía cạnh cùa phát triên tài chính (chiều sâu, tiếp cận, hiệu quà, v. Theo Cihák và cộng sự (2012), có thê săp xêp theo 4 khía cạnh cơ bàn của sự phát triỗn khu vực tài chính, bao gồm chiều sâu, khá năng liếp cận, tính hiộu quà và sự ôn định tài chính.
Nguồn: Cihák và công sự (2012).1: Các khía cạnh riêng lẻ của phát triên tài chính. (1) Chiều sảu tài chính là khái niệm thế hiện quy mô cúa các lô chức và Ihị trường tài chỉnh. Dưới góc độ các tô chức tài chính, các thước đo được sừ dụng phô biến nhất đê đo lường chiều sâu tài chính là tý lệ tín dụng tư nhân trên GDP. Tín dụng tư nhân trên GDP được định nghĩa là tỳ lệ tín dụng do các ngân hàng có chức năng nhận tiền gửi dành cho khu vực tư nhân tính theo phần trăm cùa GDP.
Một thước đo phô biến thay thế cho tín dụng tư nhân là tỳ lệ tông tài sản của ngân hàng trên GDP, 7 ảnh hường cùa thông tin không hoàn hảo, hạn chế chi phí giao dịch và thực thi hợp đồng”. Tuy nhiên, định nghĩa phát triên tài chính dựa trên mức độ mà hệ thống tài chính có thể giám thiêu sự không hoàn háo của thị trường và giám chi phí giao dịch là hẹp và chưa đề cập đến các chức năng mà hệ thống tải chính đóng góp cho nền kinh tế xét trên tông thô (Trần Thị Thúy An và cộng sự, 2023). Vì vậy, các nhà nghiên cứu sau này phát triên định nghĩa rộng hơn về phát triên tài chính dựa trên các chức năng chính của hệ thống tài chính. Ớ cấp độ rộng hơn, Levine (2005) mô tà các chức năng cốt lõi cùa hệ thống tài chính, từ đó định nghĩa sự phát triên tài chính là việc cải thiện các chức năng này, bao gồm tích lũy tiết kiệm, phân bô nguồn vổn đến các cơ hội đầu tư sinh lợi, giám sát và quản trị rủi ro các khoản đầu tư này, đa dạng hóa rủi ro, tạo điều kiện thuận lợi cho trao đôi hàng hóa và cung cấp dịch vụ.
Ngoài ra, Hartmann và cộng sự (2007) định nghĩa hệ thông tài chính là tập hợp các thị trường, các trung gian và cơ sở hạ tầng mà thông qua đó các hộ gia đình, doanh nghiệp và chính phủ tìm được các khoản tài trợ cho các hoạt động và đâu tư các khoán tiết kiệm. Hệ thống tái chính được đánh giá dựa trên 2 khía cạnh là sự hiệu qua và ôn định, trong đó, hiệu quả của hệ thống tài chính chịu tác động bời các yếu tố nền tảng kết hợp với các quá trình hội nhập và phát triên lài chính. Theo quan điếm này, phát triên tài chính là quá trình đôi mới tài chính cũng như cải thiện yếu tố thê chế và tô chức trong hộ thống tài chính, làm giâm mức độ bất cân xứng thông tin, tăng sự hoàn thiện của thị trường, tăng khà năng cho các tô chức tham gia vào các giao dịch tài chính bằng họp đồng, giám chi phí giao dịch, lãng sự cạnh tranh. Do đó, phạm vi của phát triển tài chính bao gồm việc cải tiến, đôi mới sán phẩm tài chinh, nâng cao năng lực cùa các chù the và tổ chức trong hộ thống tài chính.
Nhìn chung, phát triên khu vực tài chính là quá trình phức tạp, phán ánh các đặc diêm cũng như chức năng cua hệ thống tài chính. Theo gỏc độ cơ bàn, phát triên tài chính được nhìn nhận là việc giảm thiêu chi phí giao dịch gây ra bời các khiếm khuyết của thị trường. Theo góc độ rộng hơn, phát triển tài chính được coi như sự tiến bộ trong việc thực hiện các chức năng hoặc cải thiện trên các khía cạnh khác nhau của 9 thước đo này ngoài tín dụng tư nhân còn bao gồm tín dụng cho chính phủ và các tài sán khác của ngân hàng, vì vậy, phản ảnh một cách toàn diện quy mô của hệ thống ngân hàng và được sử dụng cho một số quốc gia khi đo lường phát triên tài chính. Các thước đo trên chủ yếu tập trung vào hệ thống ngân hàng, nhưng các cuộc khủng hoáng gần đây đà nhấn mạnh tâm quan trọng của các tô chức tài chính phi ngân hàng, gồm các quỳ tương hồ, các công ty bào hiếm, v.
Vì vậy, các nhà nghiên cửu phát triển các thước đo đê đo lường sự phát triên cho các tô chức này.