chương 1 tác giả đã cho thấy cái nhìn tổng quát các vấn đề nghiên cứu của đề tài về nợ xấu và những yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của các NHTM Việt Nam. 7 TỔNG QUAN VỀ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TỶ LỆ NỢ XẤU CỦA NHTM VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU. Tổng quan về nợ xấu Khái niệm về nợ xấu Nợ xấu hay một số thuật ngữ có ý nghĩa tương tự được sử dụng như là: Nợ dưới chuẩn, những thuật ngữ quốc tế thường được sử dụng là: bad debt của CM Buch (1994), non-performing loan theo AEG (2004), doubtful debt của Fofack (2005) và Problem Loan theo Berger và De Young (1997). Những thuật ngữ này điều mang ý nghĩa là nợ xấu hoặc là nợ dưới chuẩn, nợ cần chú ý, nợ quá hạn,… Nợ xấu nói khái quát là khoản nợ nghi ngờ về khả năng trả nợ của khách hàng, là khoản nợ quá hạn trả nợ.
Bản chất nợ xấu là khoản nợ mà chủ nợ không hoàn trả đúng hạn cho ngân hàng, khoản nợ này được ngân hàng đánh giá là không thể thu hồi và có thể xóa bỏ khỏi dánh sách thu hồi nợ. Ngoài ra, khoản nợ xấu còn được coi là "khoản lỗ" hoặc "mất mát" của các khoản vay bị giảm giá trị (Saba và cộng sự, 2012). Sau đây là một số khái niệm cụ thể về nợ xấu được định nghĩa trên thế giới. Khái niệm của nhóm chuyên gia tư vấn Advisory Expert Group (AEG, 2004): AEG thống nhất định nghĩa như sau: “Một khoản nợ được coi là nợ xấu khi thanh toán quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”.
Nói cách khác, nợ xấu được xác định trên hai yếu tố: quá hạn trên 90 ngày; khả năng trả nợ bị nghi ngờ. Khái niệm nợ xấu của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (Basel committee on banking supervision-BCBS, 2006) BCBS không đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu. Tuy nhiên, trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định, 8 việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi; người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày. Dựa trên hướng dẫn này, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ.
Chuẩn mực Kế toán quốc tế (IAS) (IFRS) Chuẩn mực Kế toán quốc tế về ngân hàng thường đề cập các khoản nợ bị giảm giá trị (Impaired Loans) thay vì sử dụng thuật ngữ nợ xấu (nonperforming Loans) là khoản vay có dấu hiệu bị giảm giá trị. Về cơ bản IAS 39 chú trọng tới khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn. Tương tự như vậy, các tác giả khác cho rằng các khoản nợ xấu đến từ những khoản nợ hiện tại, trong đó có sự chậm trễ trong thanh toán đối với các ngân hàng cho vay chủ nợ hơn 90 ngày, kể từ khi đáo hạn nợ (Louzis và cộng sự, 2010). Đối với Việt Nam Căn cứ vào Điều 3 khoản 8 và 9 của Thông tư số 02/2013/TT-NHNN về Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài định nghĩa: “Nợ xấu (NPL) là nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 51.
Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ giữa nợ xấu so với tổng nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5.” 1 Cách phân loại nợ theo Điều 10 Thông tư số 02/2013/TT-NHNN sẽ được trình bày ở phần Phụ lục 9 Đối với bài viết của tác giả sẽ sử dụng khái niệm nợ xấu theo thông tư của Ngân hàng nhà nước để thu thập dữ liệu và nghiên cứu. Chỉ tiêu đo lường nợ xấu 𝑡ổ𝑛𝑔 𝑛ợ 𝑥ấ𝑢 Tỷ lệ nợ xấu= × 100% 𝑡ổ𝑛𝑔 𝑑ư 𝑛ợ Theo nghiên cứu của tác giả Filip (2015) thì nợ xấu được coi là biểu hiện trực tiếp cho chất lượng các khoản vay ngân hàng. Như vậy tỷ lệ nợ xấu cho thấy chất lượng và rủi ro của danh mục cho vay của ngân hàng. Tỷ lệ này càng lớn cho thấy ngân hàng đang gặp khó khăn trong việc quản lý các khoản vay thuộc danh mục cho vay của ngân hàng.
Ngược lại, tỷ lệ này thấp thể hiện chất lượng tín dụng tốt. Có thể so sánh tỷ lệ của ngân hàng với tỷ lệ ngành để đánh giá chất lượng và rủi ro của danh mục cho vay của ngân hàng. Tác động của nợ xấu Tác động của nợ xấu đến hoạt động của NHTM Nợ xấu ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của NHTM Hai hoạt động chủ yếu của NHTM đó chính là huy động vốn và tín dụng, ngân hàng trả lãi suất huy động cho người gửi và thu về lãi từ khoản cho vay. Nếu hoạt động tín dụng gặp phải vấn đề nợ xấu thì ngân hàng sẽ không thể thu hồi được vốn gốc và lãi đúng hạn trong khi ngân hàng vẫn phải chi trả gốc và lãi đầy đủ và đúng hạn cho khách hàng gửi tiền, tình trạng mất cân đối này dẫn đến ngân hàng rơi vào tình trạng thiếu hụt thanh khoản.
Nếu một khi thiếu hụt thanh khoản dẫn đến tình trạng rút tiền hàng loạt của khách hàng gửi tiền thì hoạt động của ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nghiên cứu thực nghiệm của Tác giả Muriithi (2014) nghiên cứu phát hiện các khoản nợ xấu có ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại ở Kenya ở các ngân hàng có vốn lớn có mức nợ xấu cao. Nghiên cứu thực nghiệm của Azofra & Santamaria (2011) cho thấy ảnh hưởng của nợ xấu đối với rủi ro thanh khoản trong các cơ chế tài chính của Hoa Kỳ. Theo các tác giả Joseph, Edson, 10 Manuere, Clifford (2012) phát hiện thấy rằng các khoản nợ xấu đã ảnh hưởng nghịch chiều đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng về thanh khoản và lợi nhuận, cụ thể rằng sự gia tăng nợ xấu đã làm giảm khả năng sinh lời của công ty cũng như tỷ lệ thanh khoản.
Nợ xấu gây ảnh hưởng xấu đến khả năng sinh lời của NHTM Khả năng sinh lời do lường thông qua lợi nhuận và lợi nhuận hình thành từ doanh thu trừ chi phí hoạt động, phần lớn nguồn thu chính của doanh thu đến từ hoạt động cho vay. Khi nợ xấu tăng cao nghĩa là ngân hàng sẽ không thu được gốc và lãi, đồng thời kéo theo tình trạng ngân hàng không thể mở rộng tín dụng dẫn đến giảm doanh thu từ đó làm suy giảm lợi nhuận của ngân hàng. Ngoài ra, nợ xấu gia tăng các ngân hàng bắt buộc phát sinh thêm chi phí trích lập dự phòng, chi phí quản lý nợ xấu, chi phí xử lý nợ xấu, một số chi phí khác dẫn đến chi phí hoạt động tăng lên và làm lợi nhuận giảm xuống. Các nhà nghiên cứu cũng đưa ra được những bằng chứng cứ thể như sau: theo tác giả Phạm Hữu Hồng Thái (2014) nghiên cứu về tác động của nợ xấu đến khả năng sinh lợi đã sử dụng dữ liệu của 34 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam từ 2005 đến 2012, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, nợ xấu có tác động tiêu cực đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng.
Theo tác giả Fofack (2005) thì cho nợ xấu tăng cao thì lợi nhuận giảm xuống. Cùng với đó, tác giả Aziz, Ibrahim, Kamaruddin (2009) cho thấy kết quả là nợ xấu tác động tiêu cực đối với hoạt động sinh lời của các ngân hàng nước ngoài, trong khi đó đối với các ngân hàng địa phương, nó phụ thuộc vào từng ngân hàng. Nợ xấu có tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động NHTM. Theo Dinger (2009) NPL tạo ra một hiệu ứng xấu đối với sự tồn tại và tăng trưởng của ngân hàng, và nếu không được quản lý đúng sẽ dẫn đến thất bại ngân hàng.
Nguyên nhân của việc ngân hàng có nợ xấu hoạt động không hiệu quả xuất phát từ việc suy giảm năng thanh khoản, mất uy tín, giảm sức cạnh tranh trên thị trường. Từ đó các hoạt động của ngân hàng đều gặp khó khăn như là không thể tăng trưởng được huy động đồng thời hoạt động tín dụng cũng suy giảm, dẫn đến không tạo ra được lợi 11 nhuận và không gia tăng được quy mô ngân hàng. Như vậy, hiệu ứng dây chuyền này càng làm cho hoạt động ngân hàng rơi vào trạng thái tồi tệ hơn. Nghiên cứu Auronen (2003) nhấn mạnh rằng NPL trong danh mục cho vay ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán của các ngân hàng.
Dinger (2009) lưu ý rằng ngoài ảnh hưởng đến khả năng sinh lời, tính thanh khoản và hoạt động cạnh tranh, nợ xấu cũng ảnh hưởng đến tâm lý của các ngân hàng đối với việc xử lý các khoản tiền cho việc cung cấp tín dụng và mở rộng tín dụng. Nợ xấu có thể dẫn đến việc khủng hoảng hoặc phá sản ngân hàng: Từ những phân tích nợ xấu có tác động làm giảm khả năng thanh khoản, giảm uy tín, suy giảm lợi nhuận thì việc các ngân hàng rơi vào khủng hoảng cũng như có thể phá sản là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Và các nghiên cứu cũng cho thấy rằng các khoản nợ xấu có thể được sử dụng để đánh dấu sự khởi đầu của một cuộc khủng hoảng ngân hàng (Reinhart và Rogoff (2010) khi trích dẫn trong Louzis et al (2011)). Theo Kroszner (2002) trong Waweru và Kalami (2009), nợ xấu có liên quan chặt chẽ với các cuộc khủng hoảng ngân hàng.
Greenidge và Grosvenor (2010), lập luận rằng độ lớn của các khoản nợ xấu là một yếu tố quan trọng trong việc khởi xướng và tiến triển của khủng hoảng tài chính và ngân hàng. Các nghiên cứu ở các nước khác cho thấy rằng hầu hết các ngân hàng đổ vỡ đã được gây ra bởi các khoản nợ xấu (Brownbridge, 1998). Những phát hiện của Caprio và Klingebiel (2002) trích dẫn trong Fofack (2005), cho thấy ở Indonesia, nợ xấu chiếm khoảng 75% tổng tài sản vay dẫn đến sự sụp đổ của hơn sáu mươi ngân hàng trong năm 1997.