CHƯƠNG 1 Chương một giới thiệu tổng quan về bài nghiên cứu: mục tiêu, câu hỏi, phương pháp, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Làm cơ sở mạch lạc cho cả bài luận. Dựa theo những tiêu chí này, các chương tiếp theo sẽ đi sâu hơn về nội dung. Dưới đây là chương hai, nêu lên cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu.
7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CẠNH TRANH VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Lý thuyết tổng quan về ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm ngân hàng thương mại Lịch sử phát triển của hệ thống ngân hàng gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa. Và cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế hàng hóa thị trường này, mà các tư tưởng kinh tế thông qua sự đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ, đặc thù hoàn cảnh của từng quốc gia đưa ra những góc độ quan điểm khác nhau về ngân hàng thương mại. Ở một số nước như: - Mỹ: NHTM là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp dịch vụ tài chính hoạt động trong ngành dịch vụ tài chính ( financial – Service Industry). - Pháp: NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở nào thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng, hay nghiệp vụ tài chính.
- Ấn Độ: NHTM là nơi nhận các khoản ký thác để cho vay, tài trợ hay đầu tư. Riêng ở Việt Nam: Theo pháp lệnh ngân hàng năm 1990, NHTM làm một một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà nghiệp vụ thường xuyên và chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Năm 1998, theo quy định tài điều 20 khoản 2 và 7 Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội ban hành thì: “NHTM là một tổ chức tín dụng thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan.” Mới đây, trong luật tổ chức tín dụng năm 2010 có nêu rõ, NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận. 8 Như vậy, có thể nói rằng, NHTM là một định chế tài chính trung gian cự kỳ quan trọng trong nền kinh tế thị trường, làm cầu nối giữ khu vực tiết kiệm với khu vực đầu tư.
Hay nói cụ thể hơn, NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, nhận tiền gửi từ các tác nhân trong nền kinh tế, sau đó thực hiện các nghiệp vụ cho vay và đầu tư vào các tài sản có khả năng sinh lời khác, đồng thời thực hiện cung cấp đa dạng các danh mục tài chính, tín dụng, thanh toán cho các tác nhân trong nền kinh tế.2 Đặc điểm của ngân hàng thương mại - NHTM là một loại hình doanh nghiệp: Vì nó ra đời là để kinh doanh, mục đích hoạt động là vì lợi nhuận. Nói NHTM là một doanh nghiệp vì nó có cơ cấu, tổ chức bộ máy như một doanh nghiệp bình đẳng trong quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp khác, tự chủ về tài chính và phải có nghĩa vụ đóng thuế cho Ngân Sách Nhà Nước. Hơn nữa, cấu trúc tài chính của NHTM cũng như các doanh nghiệp khác. - Hoạt động của NHTM là hoạt động kinh doanh: để kinh doanh, các NHTM phải có vốn (NHTM nhà nước thì vốn do ngân sách nhà nước cấp, còn các NHTM cổ phần thì vốn do các cổ đông góp), phải tự chủ về tài chính (tự lấy thu nhập để bù đắp chi phí); Đặc biệt hoạt động kinh doanh cần đạt đến mục tiêu tài chính cuối cùng là lợi nhuận, và hoat động của các NHTM cũng không nằm ngoài xu hướng đó.
- Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt. Nét đặc biệt này thể hiện ở chỗ: Lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng. Đây là “lĩnh vực” đặc biệt vì nó liên quan trực tiếp đến tất cả các ngành, liên quan đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội. Mặt khác, lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng là lĩnh vực rất nhạy cảm, nó đòi hỏi sự thận trọng trong điều hành hoạt động nhằm tránh những thiệt hại cho nền kinh tế - xã hội.
Chất liệu kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ, mà tiền tệ là công cụ được Nhà Nước sử dụng để quản lý vĩ mô nền 9 kinh tế, do đó hoạt động của ngân hàng chịu sự kiểm soát rất chặt chẽ của Nhà Nước. Là một doanh nghiệp, nhưng nguồn vốn hoạt động chủ yếu của các ngân hàng là vốn huy động từ bên ngoài, trong khi đó vốn riêng của ngân hàng lại chiếm tỷ trọng rất thấp trong tổng nguồn vốn kinh doanh. Trong tổng tài sản của ngân hàng, tài sản hữu hình chiếm tỷ lệ rất thấp, mà chủ yếu là các tài sản vô hình. Nó tồn tại dưới hình thức các tài sản tài chính, chằng hạn như các loại kỳ phiếu, thương phiếu, trái phiếu, cổ phiếu, hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ và các loại giấy tờ có hiệu lực khác.
Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại chịu sự chi phối rất lớn bởi chính sách tiền tệ của ngân hàng Trung Ương. Một NHTM không thể mở rộng hoạt động kinh doanh khi ngân hàng Trung Ương đang áp dụng chính sách đóng băng tiền tệ, hạn chế lạm phát và ngược lại. Do đó, việc ngân hàng mở rộng hay thu hẹp hoạt động kinh doanh của mình đều phải chịu sự chi phối bởi chính sách tiền tệ của ngân hàng Trung Ương. - Ngân hàng thương mại là một trung gian tín dụng: Đóng vai trò một tổ chức trung gian đứng ra tập trung, huy động các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế (bao gồm tiền gửi tiết kiệm của các tầng lớp đân cư, tiền gửi của các đơn vị, tổ chức kinh tế…) biến những nguồn vốn nhỏ, rải rác trong nền kinh tế thành nguồn vốn tín dụng đủ lớn để cho vay đáp ứng các nhu cầu vốn kinh doanh hay đầu tư của ngành kinh tế, nhu cầu vốn tiêu dùng của xã hội.
Như vậy, có thể nói NHTM là một nhịp cầu nối liền những chủ thể thừa vốn (các cá nhân có thu nhập nhưng chưa có nhu cầu sử dụng, các doanh nghiệp, tổ chức vừa tiêu thụ được sản phẩm nhưng chưa cầu nhập vật tư, hàng hóa…) với các chủ thể thiếu vốn (những cá nhân phát sinh nhu cầu 10 tiêu dùng nhưng thu nhập chưa có hay các doanh nghiệp, tổ chức có nhu cầu nhập vật tư, vật liệu nhưng chưa có vốn…).3 Phân loại ngân hàng thương mại: - Căn cứ vào hình thức sở hữu: Ngân hàng thương mại nhà nước: Là các ngân hàng hoạt động bằng nguồn vốn cấp phát của nhà nước. Ngân hàng thương mại cổ phần: Là những ngân hàng hoạt động như công ty cổ phần, nguồn vốn ban đầu là do cổ đông đóng góp. Ngân hàng thương mại liên doanh: Có vốn được góp bởi một bên là ngân hàng Việt Nam, một bên là ngân hàng nước ngoài, có trụ sở đặt tại Việt Nam và hoạt động theo luật pháp của Việt Nam. Chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài: Là ngân hàng thành lập theo vốn và luật pháp nước ngoài, được phép mở chi nhánh tại Việt Nam, và chi nhánh này hoạt động theo luật pháp Việt Nam.
Ngân hàng thương mai 100% vốn nước ngoài: Là những ngân hàng độc lập được thành lập tại Việt Nam bằng vốn của chủ thể nước ngoài và hoạt động theo pháp luật Việt Nam, không có tư cách pháp nhân, được ngân hàng nước ngoài bảo đảm về chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ, cam kết của chi nhánh tại Việt Nam. Hiện có 5 ngân hàng loại này đang hoạt động tại Việt Nam: ngân hàng TNHH MTV Standard Chartered Bank Việt Nam, HSBC Việt Nam, ANZ Việt Nam, Shinhan Việt Nam, Hong Leong Việt Nam. - Căn cứ vào sản phẩm ngân hàng cung cấp cho khách hàng: Ngân hàng bán buôn: Số lượng sản phẩm cung cấp cho khách hàng không nhiều nhưng giá trị của từng sản phẩm rất lớn. Khách hàng chủ yếu của những công ty này là các công ty, xí nghiệp quy mô lớn, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty.
Ngân hàng bán lẻ: Số lượng sản phẩm mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng rất nhiều nhưng giá trị của từng sản phẩm thường không lớn, phần 11 lớn ngân hàng này cho vay để giải quyết vấn đề tiêu dùng hoặc sản xuất với quy mô nhò, hộ gia đình. Vì vậy, khách hàng chủ yếu là cá nhân hoặc các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ. Ngân hàng vừa bán buôn vừa bán lẻ. - Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động: Ngân hàng chuyên doanh: Chỉ hoạt động kinh doanh chuyên môn hóa trong một lĩnh vực nào đó như công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, xuất nhập khẩu…hoặc một vài nghiệp vụ của ngân hàng ví dụ như ngân hàng cầm cố bất động sản, ngân hàng đầu tư bất động sản…Do nhu cầu của khách hàng ngày càng đa dạng nên loại ngân hàng này đang có xu hướng chuyển sang kinh doanh tổng hợp để bảo toàn và thu hút khách hàng.
Ngân hàng đa năng, kinh doanh tổng hợp: Là loại ngân hàng hoạt động ở mọi lĩnh vực kinh tế và thực hiện bất kỳ nghiệp vụ nào được phép của ngân hàng thương mại.2 Cạnh tranh trong ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm cạnh tranh Cạnh tranh là một hiện tượng gắn liền với kinh tế thị trường, khái niệm cạnh tranh đã xuất hiện trong quá trình hình thành, phát triển sản xuất, trao đổi hàng hóa và phát triển kinh tế thị trường. Cạnh tranh phát sinh từ hai điều kiện cơ bản là phân công lao động xã hội và tính đa nguyên chủ thể lợi ích kinh tế, điều này làm xuất hiện các cuộc đấu tranh giành lợi ích kinh tế giữa người sản xuất hàng hóa, cung cấp dịch vụ và các tổ chức trung gian, thực hiện phân phối lại các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Cuộc đấu tranh này dựa trên sức mạnh về tài chính, kỹ thuật công nghệ, chất lượng đội ngũ lao động, quy mô hoạt động của từng chủ thể. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích, với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận và với người tiêu dùng là tiện ích tiêu dùng.