CHƯƠNG 1 Các nghiên cứu trên thế giới hiện cũng đã chỉ ra tài chính toàn diện và cạnh tranh ngân hàng có tác động ở một mức độ nào đó đến sự ổn định ngân hàng, song ở các nước khu vực ASEAN, các đề tài rất ít chú ý đến mối quan hệ này. Với mẫu quan sát là 96 ngân hàng ở sáu nước ASEAN, trong thời gian 2009 – 2020, đề tài nghiên cứu “TÁC ĐỘNG CỦA TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN VÀ CẠNH TRANH ĐẾN ỔN ĐỊNH NGÂN HÀNG TẠI CÁC QUỐC GIA ASEAN” được nhóm tác giả lựa chọn với kỳ vọng: bằng việc sử dụng kết hợp các phương pháp định tính và định lượng, có thể cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm về tác động của tài chính toàn diện và cạnh tranh đến ổn định ngân hàng. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ỔN ĐỊNH NGÂN HÀNG, TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN VÀ CẠNH TRANH NGÂN HÀNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ ỔN ĐỊNH NGÂN HÀNG 2.
Khái niệm về ổn định ngân hàng Xét về sự ổn định ngân hàng, đến nay vẫn chưa có khái niệm thống nhất cho ổn định ngân hàng. Sự thiếu thống nhất trong việc xác định ổn định ngân hàng là gì, khiến cho các cơ quan giám sát khó khăn trong việc quyết định xem sự ổn định này là ổn định của các ngân hàng truyền thống hay là sự ổn định của các tổ chức tài chính phi ngân hàng hay thậm chí là các ngân hàng không chính thống – shadow banks (Ozili, 2018). Để xác định khái niệm của thuật ngữ này, cũng có hai hướng tiếp cận: (1) mô tả trực tiếp ổn định ngân hàng và (2) gián tiếp thông qua sự bất ổn của ngân hàng. Ở hướng tiếp cận đầu tiên, một số quan điểm cho rằng có thể định ra khái niệm thông qua ổn định tài chính liên quan đến lĩnh vực ngân hàng.
Một số tác giả đã khái niệm hóa sự ổn định này một cách rõ ràng, chẳng hạn như Crockett (1997) đã xác định “sự ổn định trong lĩnh vực ngân hàng (bank sector) liên quan đến việc không có sự căng thẳng tài chính (financial stress), thứ có thể dẫn đến tổn thất ở các ngân hàng lớn hơn thậm chí là sự phá sản ở các ngân hàng nhỏ hơn, do đó, các ngân hàng có tình hình tài chính ổn định nhất có thể đáp ứng các nghĩa vụ của họ mà không cần hỗ trợ từ bên ngoài”. Ổn định ngân hàng có thể hiểu là không có khủng hoảng ngân hàng (Brunnermeier, Crocket, Goodhart, Avinash D. Sự bất ổn ngân hàng cũng có thể thể hiện qua việc các ngân hàng mất khả năng thanh toán, thường được đặc trưng bởi một lượng lớn các khoản nợ xấu không lường trước được (Ngalawa, Tchana & Viegi, 2016; Guy & Lowe, 2011). Tình trạng này dễ xảy ra hơn trong thời kỳ suy thoái kinh tế và sau thời kỳ “bùng nổ” cho vay tư nhân (Allen & Gale, 1998).
Tóm lại, tổng hợp các quan điểm nói trên về ổn định ngân hàng, với phạm vi nghiên cứu của đề tài, nhóm tác giả cho rằng khái niệm về sự ổn định ngân hàng chính là không xuất hiện vấn đề mất khả năng thanh toán hay các khoản nợ xấu không lường trước ở các ngân hàng. Các chỉ số đo lường ổn định ngân hàng Một số nhà nghiên cứu đề xuất một số cách đo lường sự ổn định ngân hàng thông qua sự biến động của lợi nhuận, hay biến động của tiền gửi để xem xét hiện tượng tháo chạy khỏi ngân hàng, hoặc có thể dựa vào chỉ số đơn giản như mức độ nợ xấu trên tổng tài sản. Chỉ số Zscore Chỉ số Zscore được đặt nền móng đầu tiên bởi Altman vào năm 1968 và từ những năm 1990, chỉ số này được chú ý đến nhiều hơn (Altman, 2000). Dựa vào nền tảng này, Boyd & Runkle (1993) đã đề xuất công thức tính như sau: k+μ Zscore = (2.9) σ Trong đó: k: (tổng vốn chủ sở hữu và các khoản dự trữ)/ tổng tài sản μ: lợi nhuận trung bình/tổng tài sản σ: độ lệch chuẩn của lợi nhuận/tổng tài sản.
Chỉ số này đại diện cho mức biến động lợi nhuận của ngân hàng. Sau này, các nhóm tác giả đã phát triển công thức (2.9) và sử dụng chỉ số Zscore theo công thức tính toán sau: ROAit +EQAit Zscoreit = (2.10) σ(ROA) it Trong đó: ROA: tỷ lệ lợi nhuận bình quân trên tổng tài sản EQA: vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản. Một ngân hàng sẽ vỡ nợ nếu khoản dự trữ vốn của họ được sử dụng hết do thua lỗ. Điều đó có nghĩa là khi một ngân hàng có lợi nhuận âm đủ lớn, khiến [ROA + E/A] <0, thì ngân hàng đó sẽ ngừng hoạt động.
Do đó, giá trị của Zscore cho biết khoảng cách với rủi ro. Zscore cao hơn có nghĩa là ổn định hơn. Chỉ số này đồng thời xem xét đến cả ba khía cạnh quan trọng trong đánh giá hiệu suất hoạt động của ngân hàng, bao gồm an toàn vốn (thông qua tỷ lệ vốn chủ sở hữu), lợi nhuận (thông qua ROA) và cả rủi ro (thông qua độ lệch chuẩn của ROA, tức mức độ dao động của lợi nhuận). 8 Chỉ số Zscore được xem là một chỉ tiêu đo lường khoảng cách với tình trạng mất khả năng thanh toán (Bai & Elyasiani, 2013; Laeven & Levine, 2009; Roy, 1952) và đo lường tốt cho sự ổn định của ngân hàng, vì khi chỉ số càng thấp có nghĩa là tính dễ đổ vỡ của ngân hàng gia tăng.
Theo Chiaramonte et al. (2016), chỉ số Zscore có thể dự báo được 76% khả năng thất bại của các ngân hàng. Ashraf, Ramady & Albinali (2016) cho rằng Zscore là một thước đo tổng hợp về sự ổn định, xem xét sự ổn định một cách tổng thể của tổ chức tài chính mà không cần quan tâm đến nguồn rủi ro và nhóm nhóm tác giả đã sử dụng chỉ số này để đo lường sự ổn định của các ngân hàng. Vì tính chất này, Li & Malone (2016) đã chọn sử dụng Zscore để đo lường rủi ro cho ngân hàng ở New Zealand.
Hơn nữa, một ưu điểm khác của Zscore chính là dễ tính toán và không đòi hỏi nhiều dữ liệu bởi chỉ số này chỉ yêu cầu thông tin có sẵn trên báo cáo tài chính. Đây là lợi thế hàng đầu trong việc ưu tiên sử dụng chỉ số Zscore trong việc đánh giá sự ổn định của ngân hàng. Một số chỉ số đo lường khác Nhiều nhà nghiên cứu sử dụng tỷ lệ nợ xấu (so với tổng nợ hoặc so với tổng tài sản) như là thước đo cho sự ổn định của ngân hàng, và xem đây là thước đo truyền thống cho rủi ro của tín dụng ngân hàng. Chẳng hạn như Fernández, González & Suárez (2016) ; S.
Một số các chỉ số khác được các nhóm tác giả chỉ ra, như Bordo, Dueker & Wheelock (2002) phát triển và kiểm tra một chỉ số căng thẳng tài chính rời rạc bao gồm chuỗi thời gian về thất bại kinh doanh, điều kiện ngân hàng, lãi suất thực và mức chênh lệch chất lượng mô tả tình trạng của khu vực tài chính Hoa Kỳ. Puddu (2008) xây dựng một chỉ số liên tục thực sự cho ngân hàng Hoa Kỳ bằng cách tổng hợp các biến bảng cân đối của ngân hàng thương mại và xem xét tác động của các phương án tỷ trọng khác nhau đến khả năng nhân rộng của các sự kiện khủng hoảng tài chính. Một số nhà nghiên cứu sử dụng độ lệch chuẩn của ROA để đo lường rủi ro từ các ngân hàng như Ahamed & Mallick (2019); Fang, Hasan & Marton (2014). Ngoài ra sự ổn định ngân hàng còn có thể được thể hiện thông qua các chỉ số như tỷ lệ vốn chủ sở hữu so với tổng nguồn vốn của ngân hàng, tỷ lệ cho vay so với huy động, khả năng thanh khoản ngân hàng, v.
Một số lý thuyết về ổn định hệ ngân hàng 2. Lý thuyết quá lớn để sụp đổ “Too-big-to-fail” Lý thuyết quá lớn để sụp đổ “Too-big-to-fail” đề cập đến mối quan hệ giữa quy mô ngân hàng và rủi ro ngân hàng. Trước tiên, thuật ngữ “Too-big-to-fail” (quá lớn để sụp đổ) là thuật ngữ quốc tế, được nhắc đến bởi Nghị sĩ Stewart McKinney (1984) trong một phiên điều trần của Nghị viện Mỹ khi thảo luận về sự cứu trợ của Tổng công ty Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang đối với Ngân hàng Continental Illinois để tránh sự sụp đổ. Lý thuyết quá lớn để sụp đổ cho rằng các ngân hàng hay định chế tài chính có quy mô lớn, hoạt động rộng và liên kết với nhiều thành phần kinh tế khác, có tầm ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế của một quốc gia nên trước nguy cơ phá sản của họ sẽ là thảm họa cho cả nền kinh tế, do đó cần được hỗ trợ bởi Chính phủ khi họ phải đối mặt với khó khăn.
Lý giải vấn đề này đối với sự ổn định ngân hàng, Boyd and Runkle (1993) cho rằng bắt nguồn từ thực tế các ngân hàng hoạt động trong một thị trường ít sự cạnh tranh có thể trở nên quá lớn, quá trọng yếu đối với nền kinh tế và quá liên kết với nhau đến nỗi sự sụp đổ của các ngân hàng này có khuynh hướng gây ra tác động kéo dài đối với nền kinh tế thực và chi phí xã hội tốn kém. Mặt khác quy mô của một ngân hàng tỷ lệ thuận với mức độ phức tạp do đó, các ngân hàng nhỏ sẽ dễ quản lý và giám sát hơn là các ngân hàng lớn. Các ngân hàng lớn cũng thường đi liền với vấn đề quá lớn để giám sát. Thực tế này có thể khuyến khích các ngân hàng chấp nhận rủi ro quá mức vì họ biết rằng các cơ quan quản lý có thể không phát hiện được rủi ro mà ngân hàng đang gặp phải.
Lý thuyết người đại diện Lý thuyết đại diện (Michael and William, 1976) có hàm ý rằng các chủ sở hữu và người điều hành công ty không có cùng mục tiêu; các quyết định và hành động của các nhà quản lý chắc chắn bị lệch về lợi ích cá nhân, mâu thuẫn với lợi ích của cổ đông. Lý thuyết này có cơ sở từ tâm lý học đó là: con người vốn có khuynh hướng cá nhân (individualistic), cơ hội (opportunistic), và tư lợi (self-interest); tuy nhiên vấn đề ở đây là làm sao để các cá nhân dung hòa lợi ích để cùng có lợi và phát triển. Nghiên cứu của nhóm tác giả này cho rằng người sở hữu vốn quan tâm đến giá trị công ty, giá cổ phiếu (cũng là lợi ích của chính họ). Trong khi đó, nhà quản trị về cơ bản không quan tâm nhiều đến lợi ích cổ đông mà thường chỉ quan tâm đến lợi ích của mình là chính (lương, thưởng, phụ cấp, nguồn thu khác dựa trên vị trí công tác của mình).