CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Lý do chọn đề tài. Sự ảnh hưởng của thay đổi khối tiền cung ứng đến nền kinh tế như thế nào là một câu hỏi quan trọng quyết định tới việc xây dựng và thực thi CSTT một cách đúng đắn và hiệu quả. Lý thuyết tài chính hiện đại cho rằng, lượng cung tiền ảnh hưởng đến các biến số kinh tế vĩ mô thông qua các kênh truyền dẫn CSTT như: lãi suất, giá tài sản, tỷ giá hối đoái và hoạt động tín dụng ngân hàng (Bernanke & Blinder, 1988).
Mức độ tác động của các công cụ chính sách tới nền kinh tế có vai trò quan trọng trong định hướng điều hành CSTT của NHTW. Hiệu quả của một CSTT nới lỏng chưa chắc đã được bảo đảm ngay cả khi NHTW hạ thấp mức lãi suất điều hành và kết quả là tác động đến nền kinh tế không được như kỳ vọng. Mặt khác, trước khi đưa ra lựa chọn và sử dụng công cụ CSTT, NHTW cần đánh giá chính xác thời gian và mức độ ảnh hưởng của công cụ này tới hệ thống TCTD và nền kinh tế. Liên quan đến vấn đề này, giữa các nhà kinh tế vẫn còn các quan điểm khác nhau, bởi trong những điều kiện hay mức độ phát triển của thị trường tài chính khác nhau, thì tác động của CSTT tới nền kinh tế qua các kênh truyền dẫn cũng không giống nhau.
Là một trong những kênh truyền dẫn của CSTT, kênh tín dụng bổ sung cho kênh lãi suất giúp khuếch đại tác động truyền dẫn CSTT đến các biến số kinh tế vĩ mô thông qua cung tín dụng của NHTM (Olivero, Li, & Jeon, 2011b). Khi NHTW thắt chặt CSTT, nguồn vốn của NHTM bị suy giảm, nếu NHTM không thể hoặc gặp khó khăn trong việc phát hành công cụ nợ hoặc vốn trên thị trường để huy động vốn nhằm bù vào phần suy giảm đó thì NHTM phải cắt giảm cung tín dụng và ngược lại. Tại Việt Nam, cùng với nhiều chính sách kinh tế vĩ mô khác, CSTT thắt chặt trong năm 2008, 2011 và nửa đầu năm 2012 nhằm đối phó với sự gia tăng của lạm phát và bất ổn kinh tế vĩ mô đã gây khó khăn trong hoạt động kinh doanh của hệ thống NHTM cũng như các doanh nghiệp. Tình trạng thắt chặt tín dụng trong một thời gian dài đã để lại những hệ lụy cho nền kinh tế.
Cụ thể, về phía doanh nghiệp, hàng hóa tồn kho, dòng vốn tắc nghẽn, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp. Về phía ngân hàng, căng thẳng thanh khoản, nợ xấu gia tăng, mức sinh lời giảm sút là những biểu hiện luan an 2 yếu kém phổ biến được bộc lộ rõ rệt và làm ảnh hưởng tới cung tín dụng của NHTM (Chu Khánh Lân, 2012). Những năm gần đây, ngành ngân hàng tại Việt Nam đã có những thay đổi đáng kể trong năng lực cạnh tranh. Các yếu tố góp phần tạo ra những thay đổi quan trọng trong cấu trúc thị trường bao gồm: cổ phần hóa, các cải cách tài chính, bãi bỏ quy định, làn sóng sáp nhập và mua lại, cùng với sự gia tăng của ngân hàng nước ngoài.
Bên cạnh đó, hội nhập kinh tế quốc tế trở thành một xu thế thời đại và diễn ra mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực tại Việt Nam. Chẳng hạn, Việt Nam nỗ lực để trở thành một phần có đóng góp tích cực của nền kinh tế toàn cầu, là thành viên chính thức thứ 150 của Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) ngày 07/11/2006. Cùng với việc tham gia Hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) cũng như hội nhập vào cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), việc thực hiện lộ trình cam kết quốc tế trong lĩnh vực tài chính, hệ thống NHTM Việt Nam sẽ đón nhận nhiều cơ hội những cũng như đối diện không ít thách thức và khó khăn. Theo đó, song song với việc vươn ra thị trường thế giới, Việt Nam cũng phải mở cửa thị trường trong nước, trong đó có lĩnh vực tài chính - ngân hàng.
Trong bối cảnh chung đó, NHTM Việt Nam phải chủ động nhận thức, sẵn sàng tham gia vào quá trình hội nhập và cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu cũng như cạnh tranh ngay tại sân nhà. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sẽ tạo ra sức ép ngày càng lớn hơn cho hoạt động kinh doanh của NHTM Việt Nam trong khi các lợi thế như quy mô vốn, nhân sự, công nghệ trình độ cao đang thuộc về các NHTM nước ngoài. Để chiếm được ưu thế, tận dụng cơ hội và gia tăng thị phần, NHTM Việt Nam phải từng bước cải thiện để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Từ đó, tác giả lựa chọn vấn đề “Tác động truyền dẫn chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng dưới ảnh hưởng năng lực cạnh tranh của các NHTM tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ.
Tổng quan nghiên cứu 1. Nghiên cứu tác động truyền dẫn chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng Cơ chế truyền dẫn CSTT mô tả quá trình mà CSTT ảnh hưởng đến các biến số vĩ mô trọng yếu như tổng cầu, giá cả, đầu tư và sản lượng. Tác động của CSTT qua các kênh như lãi suất, tỷ giá, giá cổ phần, tín dụng,. đã được nhiều nghiên cứu thảo luận.
Các nghiên cứu tiêu biểu về tác động truyền dẫn CSTT qua kênh tín dụng sẽ được tóm lược trong phần này, cụ thể như sau: ❖ Nghiên cứu nước ngoài Lược khảo các nghiên cứu nước ngoài về sự tồn tại của tác động truyền dẫn CSTT qua kênh tín dụng cho thấy có hai luồng kết quả chính: một số nghiên cứu cho thấy sự tồn tại của tác động truyền dẫn CSTT qua kênh tín dụng, một số còn lại cho thấy không có sự tồn tại của kênh này. Các nghiên cứu cho thấy tồn tại tác động CSTT qua kênh tín dụng bao gồm: Sun và cộng sự (2010) kiểm tra tác động khác nhau của cú sốc CSTT trên các khía cạnh hoạt động kinh doanh của ngân hàng (tiền gửi, cho vay và chỉ số chứng khoán) và trên các loại ngân hàng khác nhau (ngân hàng quốc doanh và các ngân hàng ngoài quốc doanh). Các biến trong mô hình nghiên cứu bao gồm các biến kinh tế vĩ mô (lãi suất cho vay ngắn hạn, sản lượng công nghiệp, chỉ số giá tiêu dùng, xuất khẩu, nhập khẩu và dự trữ ngoại hối). Bằng phương pháp ước lượng VAR/VECM, mô hình khám phá cơ chế truyền dẫn CSTT của Trung Quốc qua kênh tín dụng thông qua dữ liệu ngân hàng hàng tháng và các loại khoản vay từ năm 1996 đến năm 2006, nghiên cứu cho thấy sự tồn tại của cơ chế truyền dẫn CSTT qua kênh cho vay ngân hàng, kênh lãi suất và kênh giá tài sản.
Một cú sốc CSTT ảnh hưởng đến hoạt động của các loại ngân hàng và các loại khoản vay. Bằng chứng thực nghiệm này ngụ ý rằng thông qua điều hành CSTT, Trung Quốc có thể đạt được mục tiêu vĩ mô bằng cách hạn chế hoặc tăng cường cung cấp vốn thông qua kênh cho vay của ngân hàng. Với quy mô thị trường vốn chưa trưởng thành, hầu hết các công ty Trung Quốc tiếp cận vốn chủ yếu phụ thuộc vào các khoản vay ngân hàng. Do đó, kênh cho vay ngân luan an 4 hàng đóng một vai trò lớn trong thực hiện CSTT của Trung Quốc để đạt được các mục tiêu vĩ mô.
Lindner và cộng sự (2019) nghiên cứu tác động CSTT của Hoa Kỳ và khu vực Euro đến thay đổi trong cho vay của các ngân hàng ở Áo và Đức. Dữ liệu nghiên cứu bao gồm các ngân hàng ở Áo và Đức (bao gồm cả các ngân hàng nước ngoài) khoảng thời gian từ 2005Q1 đến 2015Q4 được thu thập bởi Oesterreichische Nationalbank và Deutsche Bundesbank. Mô hình sử dụng biến phụ thuộc là thay đổi cho vay trong nước, biến kiểm soát là một vectơ của năm biến số bao gồm quy mô ngân hàng, tổng tài sản, tỷ lệ VCSH, tỷ lệ thanh khoản, tỷ lệ tiền gửi, biến CSTT được đo lường thông qua thay đổi trong tỷ lệ cung tiền trên thị trường tiền tệ khu vực đồng Euro và biến tỷ lệ tài trợ của từng ngân hàng được đo bằng tổng nợ bên ngoài so với tổng tài sản. Kết quả nghiên cứu cho thấy CSTT của Hoa Kỳ ảnh hưởng đến cung tín dụng cho khu vực tư nhân phi tài chính trong nước do tỷ lệ ngày càng nhiều ngân hàng tài trợ cho hoạt động cho vay bằng đô la Mỹ.
Do đó, càng nhiều ngân hàng được tài trợ bằng đô la Mỹ, càng nhiều khoản cho vay khu vực trong nước bị ảnh hưởng bởi những thay đổi CSTT ở Hoa Kỳ, hiệu ứng này rõ rệt ở Đức hơn ở Áo. Tuy nhiên, những ngoại tác lan truyền này có ý nghĩa thống kê nhưng không có ảnh hưởng lớn về mặt kinh tế. Mahathanaseth & Tauer (2019) nghiên cứu sức mạnh của kênh cho vay ngân hàng trong truyền tải CSTT ở Thái Lan. Dữ liệu bảng cân bằng theo quý của 10 NHTM đồng dạng về quy mô trong giai đoạn 2007-2016.
Mô hình sử dụng biến phụ thuộc là một vector bao gồm số lượng các khoản cho vay, đầu tư, tiền gửi, trái phiếu và các khoản vay liên ngân hàng tương ứng; vector biến độc lập bao gồm lãi suất cho vay, tỷ lệ hoàn vốn đầu tư; lãi suất huy động, lãi suất vay và lãi suất liên ngân hàng. Bằng phương pháp ước lượng VECM, kết quả ước lượng cho thấy, do chênh lệch chuyển đổi giữa lãi suất bán lẻ, tăng tỷ lệ lãi suất chính sách làm tăng chi phí đầu vào cho vay. Các ngân hàng nhỏ cho thấy mức độ giảm cung cho vay lớn hơn các ngân hàng lớn vì các ngân hàng lớn có khả năng gia tăng nguồn quỹ tốt hơn luan an 5 để tiếp tục cho vay thông qua phát hành nợ. Bởi vì nền kinh tế Thái Lan phụ thuộc rất nhiều vào vay ngân hàng, kết quả nghiên cứu là bằng chứng cho thấy kênh cho vay ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong truyền dẫn CSTT ở Thái Lan.
Roman Matousek & Helen Solomon (2018) cho thấy rằng chính sách hợp nhất của Ngân hàng Trung ương Nigeria (CBN) và tái cơ cấu từ năm 2002 đến năm 2008 đã củng cố kênh cho vay ngân hàng (BLC). Mô hình nghiên cứu sử dụng biến phụ thuộc biểu thị kích thước của các khoản vay ngân hàng; biến độc lập bao gồm: công cụ CSTT được đo lường thông qua lãi suất danh nghĩa ngắn hạn; và các biến: GDP; CPI, biến giả cho ngân hàng thuộc sở hữu nước ngoài hay không; và ba biến đặc điểm ngân hàng bao gồm: quy mô ngân hàng, thanh khoản và khả năng vốn hóa của mỗi ngân hàng nhằm xem xét sự tương tác giữa các đặc điểm cụ thể của ngân hàng và lãi suất danh nghĩa.