Đặt vấn đề nghiên cứu Mối quan hệ giữa đầu tư và các nguồn lực của công ty là một trong những chủ đề được nghiên cứu sâu rộng vì ý nghĩa quan trọng của nó trong tài chính doanh nghiệp. Lý thuyết nền tảng về đầu tư được đưa ra bởi John M. Keynes và Irving Fisher (1936) với lập luận rằng: Cho đến khi giá trị hiện tại của doanh thu biên kì vọng trong tương lai bằng với chi phí cơ hội của vốn đầu tư, thì quyết định đầu tư vẫn được lựa chọn. Vấn đề mấu chốt các nghiên cứu của Fisher và các nhà kinh tế học sau đó nằm ở việc xác định kì vọng của đầu tư về doanh thu trong tương lai và kì vọng về một tỷ suất sinh lợi.
Sau đó, nghiên cứu của Modigliani & Miller (1958) cho thấy rằng đầu tư của một công ty chỉ phụ thuộc vào khả năng sinh lợi của các cơ hội đầu tư của nó. Dưới các giả định về thị trường vốn hoàn hảo, lý thuyết Modigliani & Miller cho thấy rằng quyết định đầu tư độc lập với các nhân tố tài chính như cấu trúc vốn của doanh nghiệp, tính thanh khoản của các nguồn tài trợ, và chi trả cổ tức. Tuy nhiên, trong một thị trường thực tế, không hoàn hảo, nhiều bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng đầu tư công ty là phụ thuộc vào các nguồn vốn tài trợ, chính sách kinh tế vĩ mô, và cả những nhân tố tác động đến hành vi tự tin đầu tư của cấp quản lý trong doanh nghiệp. Mối quan hệ giữa đầu tư và tài trợ của doanh nghiệp đã được nghiên cứu sâu rộng tại các quốc gia phát triển.
Mối quan hệ giữa đầu tư và sự sẵn có hay thiếu hụt của các nguồn tài trợ tại Mỹ được nghiên cứu bởi Modigliani và Zeman (1952), theo đó, không có bằng chứng rõ ràng nào cho thấy rằng việc thay đổi từ tài trợ bằng vốn cổ phần sang tài trợ bằng nợ sẽ làm tăng mức độ đầu tư. Tuy nhiên, việc sử dụng cổ phiếu vào thời điểm đó đã giúp cho các công ty có thêm nguồn tài trợ cho các quyết định đầu tư của họ. Bằng chứng về các ràng buộc đối với nguồn tài trợ tài chính từ bên ngoài được đưa ra đầu tiên bởi Fazzari (1988). Theo đó, bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng sự sẵn có của nguồn tài trợ vốn từ bên ngoài sẽ có tác động lên các quyết định đầu tư của doanh nghiệp ngay cả khi mà các doanh nghiệp có xu hướng sử dụng nguồn quỹ nội bộ của họ cho đầu tư hơn là sử dụng nguồn quỹ từ bên ngoài.
123doc 3 Tuy nhiên, một điều khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa là nguồn vốn nội bộ không nhiều như các doanh nghiệp lớn. Do đó, các doanh nghiệp lớn sẽ có xu hướng đầu tư sử dụng nguồn vốn nội bộ nhiều hơn và như vậy, quyết định đầu tư sẽ phụ thuộc ít hơn vào các nguồn tài trợ bên ngoài. Nhóm các doanh nghiệp vừa và nhỏ, theo đó, có xu hướng phụ thuộc vào các nguồn tài trợ bên ngoài nhiều hơn. Nhóm các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm phần lớn ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam.
Nguồn gốc của các khoản tài trợ cho quyết định đầu tư của doanh nghiệp cũng được thể hiện thông qua lịch sử của lý thuyết đầu tư, từ những lý thuyết ban đầu của Keynes và Fisher. Giá trị hiện tại thuần trở thành tiêu chuẩn trong việc đánh giá dự án đầu tư trong tài chính cũng từ những lý thuyết ban đầu nêu trên. Đại diện cho trường phái tân cổ điển, Jorgenson (1963), phát triển lý thuyết nền tảng của Keynes và Fisher. Brainard và Tobin (1968) cũng dựa trên ý tưởng đó mà phát triển lý thuyết đầu tư Q.
Đây là hai lý thuyết có ảnh hưởng sâu trong việc ra quyết định đầu tư trong doanh nghiệp. Theo đó, hai lý thuyết này dựa trên giả định là tối đa hóa lợi nhuận hay là tối đa hóa giá trị thuần của dự án đầu tư. Tuy nhiên, với giả định vốn đầu tư thực tế sẽ ngay lập tức điều chỉnh hoàn toàn theo vốn đầu tư tối ưu, lý thuyết đầu tư đề xuất bởi Jorgeson thực ra là lý thuyết về vốn, hơn là lý thuyết về đầu tư (Mueller, 2003). Lý thuyết đầu tư Q phát triển từ lý thuyết tân cổ điển với việc thêm vào phương trình lợi nhuận một phương trình điều chỉnh chi phí biên.
Mô hình Q đã giải quyết được vấn đề giả định trong mô hình tân cổ điển rằng sự điều chỉnh của vốn đầu tư đến một mức tối ưu là hoàn toàn và ngay lập tức trong mỗi giai đoạn, trong thực tế, vốn đầu tư không phản ứng nhanh như vậy. Tuy nhiên, mô hình Q cũng có những bất hoàn hảo của nó. Trong khi Q trung bình được tính bằng giá trị thị trường dựa trên thông tin vốn cổ phần có thể dễ dàng có được, thì giá thị trường của khoản nợ thì gần như là không thể thu thập được. Hơn nữa, thị trường là không hoàn hảo và một lúc nào đó nó có thể định giá sai đối với giá trị doanh nghiệp.
Q chỉ đúng khi có giả định thị trường là hoàn hảo. Q biên được cho là giải quyết vấn đề mà Q trung bình đang vướng phải khi đo lường giá trị thị trường trên giá trị sổ sách, nhưng vấn đề về các bất hoàn 123doc 4 hảo của thị trường vẫn là một điểm hạn chế của Q biên. Để giải quyết vấn đề về thông tin thị trường của mô hình Tobin’s Q mô hình gia tốc doanh thu đã được nghiên cứu dựa trên nguyên lý đầu tư gia tốc, giả định rằng đầu tư được quyết định dựa trên một lượng vốn cổ phần tối ưu. Theo nguyên lý đầu tư gia tốc, đầu tư trong bất kì một giai đoạn nào chỉ phụ thuộc vào sự tăng trưởng của doanh thu giai đoạn đó phản ảnh qua khả năng sinh lợi kì vọng.
Ngoài việc đánh giá các cơ hội đầu tư sẵn có, nguồn tài trợ cho đầu tư từ nội bộ hay từ bên ngoài, việc ra quyết định đầu tư còn bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau trong một thị trường bất hoàn hảo bao gồm cả sự can thiệp của chính phủ. Mối liên hệ giữa chính sách vĩ mô và đầu tư tư nhân được nghiên cứu ban đầu bởi Serven & Solimano (1992) cho thấy rằng chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và sự ổn định của nền kinh tế có ảnh hưởng đến đầu tư tư nhân. Các nền kinh tế bất ổn với những chính sách thay đổi nhanh chóng, các chính sách khuyến khích đầu tư không lâu dài sẽ làm cho các nhà đầu tư giảm mức độ đầu tư và chờ đợi cho một cơ hội mới hơn khi mà nền kinh tế trở nên ổn định. Trong đó, sự đầy đủ của các nguồn vốn bên ngoài tài trợ cho đầu tư là nhân tố quan trọng tác động đến mối liên kết giữa sự phát triển tài chính và đầu tư.
Rõ ràng, khu vực tư nhân có thể tự chủ hơn nếu có một nguồn tài trợ cho các dự án tiềm năng và tự tin hơn khi đầu tư vì những thay đổi của chính sách mang tính tích cực. Những năm gần đây, có nhiều các nghiên cứu về mối liên hệ giữa cấu trúc tài chính của công ty, hành vi đầu tư của doanh nghiệp và chính sách tiền tệ. Tuy nhiên, các nghiên cứu tập trung chủ yếu ở khu vực kinh tế phát triển như tại Nhật Bản (Fuchi và cộng sự, 2005), tại Mỹ (Vijverberg, 2004), tại Anh (Mizen & Vermeulen,2005; Guariglia, 2008), tại khu vực đồng tiền chung châu Âu (Bond và cộng sự, 2003; Chatelain và cộng sự, 2003; De Haan và Sterken, 2011), tại Canada (Aivazian và cộng sự, 2005), tại Tây Ban Nha (Gonzales và Lopez, 2007). Trong khi các nghiên cứu tại các thị trường mới nổi thì khá giới hạn; và mối quan hệ giữa đầu tư doanh nghiệp, chính sách tiền tệ thông qua cấu trúc tài chính doanh nghiệp vẫn chưa được nghiên cứu sâu rộng tại các thị trường này, trong đó có Việt Nam.
Hơn nữa, với các cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra gần đây, sự chú ý đến mối liên hệ này 123doc 5 đã được các nhà nghiên cứu và các nhà chính sách quan tâm hơn. Trong đó có nghiên cứu tại Hàn Quốc (Borensztein và Lee, 2002), tại Thái Lan (Rungsomboon, 2003), tại Hungary (Perotti và Vesnaver, 2004), tại Trung Quốc (Firth và cộng sự, 2008) và gần đây nhất là tại Malaysia (Zulkhibri, 2013). Hầu hết các nghiên cứu cho thấy rằng có mối liên hệ giữa nguồn tài trợ và đầu tư doanh nghiệp ở các thị trường mới nổi. Tuy nhiên, mối quan hệ này là khác nhau giữa các quốc gia bởi các chính sách khác nhau và đối với các nhóm công ty khác nhau.
Bài nghiên cứu sau đây nghiên cứu về sự tác động của chính sách tiền tệ thông qua cấu trúc tài chính lên hành vi đầu tư doanh nghiệp tại Việt Nam. Cụ thể, bài nghiên cứu xem xét diễn biến hành vi đầu tư của các công ty niêm yết và chính sách tiền tệ là mở rộng hay hay thắt chặt thông qua cấu trúc tài chính trong giai đoạn 9 năm từ 2005 đến 2014. Như vậy, bài nghiên cứu bổ sung thêm bằng chứng thực nghiệm về mối liên hệ nêu trên tại Việt Nam. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu Mục tiêu của bài nghiên cứu là: 1.
Kiểm tra mối liên hệ giữa sự thay đổi chính sách tiền tệ lên hành vi đầu tư với đặc điểm về sự phụ thuộc vào ngân hàng của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán trong nền kinh tế đang phát triển, cụ thể là Việt Nam. Các kênh tài trợ của các công ty tại Việt Nam chưa phát triển mạnh và tài trợ công ty chủ yếu thông qua hệ thống ngân hàng là điều kiện cần thiết thực hiện nghiên cứu khi mà chứng cứ về mối liên hệ trên tại các nước có nền tài chính đang phát triển đang còn thiếu. Nghiên cứu sẽ làm rõ khi chính sách tiền tệ thay đổi, hành vi đầu tư của công ty và hành vi tài trợ của công ty sẽ thay đổi như thế nào. Bài nghiên cứu cũng kiểm tra tác động của chính sách tiền tệ lên hành vi đầu tư của công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam liên hệ với đặc điểm về dòng tiền nội bộ của công ty.
Cụ thể, khi chính sách tiền tệ thay đổi, hành vi đầu tư của các 123doc 6 công ty sẽ thay đổi như thế nào dựa trên phân tích đặc điểm dòng tiền của các công ty. Mục tiêu của bài nghiên cứu nhằm trả lời các câu hỏi sau: 1.