Chương 1 giới thiệu bối cảnh cho việc đề xuất áp dụng quy tắc mới trong điều hành chính sách tiền tệ của NHNN, bao gồm lạm phát mục tiêu và GDP danh nghĩa mục tiêu. Trong Chương 2 thảo luận khung lý thuyết về GDP danh nghĩa mục tiêu và tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm liên quan ở trong và ngoài nước. Chương 3 đầu tiên đề cập đến những trục trặc trong thực thi chính sách tiền tệ ở Việt Nam. Phần tiếp theo của Chương 3, dựa trên cơ sở khung lý thuyết ở Chương 2, sử dụng phương pháp định lượng ước lượng độ dốc đường tổng cung, chứng minh nền kinh tế Việt Nam chịu tác động bởi các cú sốc cung và cú sốc ngoại thương cũng như sự vượt trội của GDP danh nghĩa mục tiêu so với lạm phát mục tiêu khi ứng phó với các cú sốc như vậy.
Chương cuối cùng đưa ra các kết luận nghiên cứu và đề xuất áp dụng GDP danh nghĩa mục tiêu như một quy tắc trong quản lý chính sách tiền tệ ở Việt Nam trong thời gian tới. -6- CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT GDP DANH NGHĨA MỤC TIÊU 2. Tại sao đặt ra quy tắc trong thực thi chính sách tiền tệ? Cũng giống như chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ là một công cụ giúp bình ổn tổng cầu, và vì vậy giúp bình ổn kinh tế vĩ mô của một nước. Chính sách tiền tệ liên quan đến các biện pháp can thiệp của ngân hàng trung ương bằng cách thay đổi cung tiền và lãi suất nhằm đạt được các mục tiêu chính sách kinh tế vĩ mô như ổn định giá cả và tăng trưởng kinh tế (Fed, 2014).
Một định nghĩa khác, chính sách tiền tệ ngăn chặn đồng tiền của một nước khỏi nguy cơ trở thành một tác nhân chính gây ra các biến động kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng cho sự ổn định của nền kinh tế (Friedman, 1968). Một chủ đề tranh luận giữa các nhà kinh tế là liệu ngân hàng trung ương nên cam kết đi theo quy tắc bằng cách công bố một hay nhiều mục tiêu trung gian hình thành chính sách tiền tệ như thế nào hay đuợc quyết định một cách tùy nghi (Mankiw, 2014). Những người phản đối chính sách tiền tệ theo quy tắc cho rằng rất khó xác định rõ ràng mục tiêu nào tốt, khả năng dự báo kinh tế có độ chính xác không cao, trong khi đó chính sách tùy nghi có tính linh hoạt hơn.3 Những nguời ủng hộ lập luận rằng chính sách tùy nghi có thể gây ra nhiều hậu quả do sự thiếu năng lực của các nhà điều hành chính sách, lạm dụng quyền lực chính trị và sự không nhất quán theo thời gian trong việc quản lý chính sách tiền tệ (dẫn tới lạm phát nhiều hơn mong đợi). Hơn nữa, việc đặt ra mục tiêu chính sách cung cấp một cái neo danh nghĩa cho chính sách tiền tệ, tức là giúp định hình kỳ vọng.4,5 Nhưng nếu theo quy tắc, thì vấn đề là nên theo quy tắc nào? Quy tắc chủ động hay thụ động? Có năm quy tắc có thể áp dụng cho chính sách tiền tệ.
Thứ nhất là ngân hàng trung ương thiết lập mục tiêu cung tiền. Những nhà kinh tế thuộc phái trọng tiền cho rằng cung tiền nên đuợc giữ tỷ lệ gia tăng cố định nhằm duy trì tỷ lệ lạm phát thấp – một quy tắc thụ động.6 Theo Friedman (1968), bằng cách giữ ổn định tốc độ tăng cung tiền hàng năm, nó sẽ giúp ổn định hóa nền kinh tế, bởi những giai đoạn tăng trưởng cung tiền ổn định tương ứng với 3 Chính sách theo quy tắc có thể xếp vào dạng tùy nghi khi điều chỉnh hoặc không đạt mục tiêu đã cam kết. 4 Neo danh nghĩa cho chính sách tiền tệ là một mục tiêu trung gian mà các nhà điều hành theo đuổi nhằm đạt mục tiêu chính sách, ví dụ như đặt ưu tiên ổn định giá cả và sản lượng. 5 Kỳ vọng của cá nhân và doanh nghiệp có hợp lý tùy thuộc một phần vào dự đoán về chính sách kinh tế của chính phủ trong tương lai (Phạm Chung và cộng sự, 2011).
6 Quy tắc thụ động là chính sách ổn định không xét đến tình trạng của nền kinh tế, còn quy tắc chủ động cố gắng điều chỉnh biến động chu kỳ kinh tế - quy tắc phản hồi. Quy tắc cung tiền là một quy tắc thụ động, các quy tắc còn lại là quy tắc chủ động. -7- sự ổn định tương đối của nền kinh tế, và ngược lại. Tuy vậy, sự ổn định của cung tiền chỉ giúp bình ổn nền kinh tế vĩ mô trong ngắn hạn tùy vào sự ổn định hay không ổn định của tốc độ lưu chuyển tiền.
Trên thực tế, trong trường hợp nền kinh tế rơi vào suy thoái hay khủng hoảng, tốc độ lưu chuyển tiền biến động mạnh và rất khó dự đoán, vì vậy việc cứng nhắc theo đuổi một mức tăng tưởng cung tiền sẽ không giúp trung hoà sự biến động của tăng trưởng cũng như lạm phát. Mục tiêu tỷ giá cũng là một lựa chọn của các ngân hàng trung ương. Frankel (2012) xem xét một số ưu điểm của cơ chế tỷ giá cố định và cơ chế tỷ giá thả nổi, và nhận định cơ chế tỷ giá nào hiệu quả hơn tùy thuộc vào tình hình của mỗi quốc gia. Ưu điểm nổi bật nhất của cơ chế tỷ giá cố định là cung cấp một cái neo danh nghĩa cho chính sách tiền tệ.
Nếu không theo bất kỳ quy tắc nào, ngân hàng trung ương có khuynh hướng gây ra tình trạng thiên lệch lạm phát. Nhưng nếu cố định tỷ giá và lạm phát thấp ở các nước khác mà cũng áp dụng tỷ giá cố định, thì công chúng sẽ ít kỳ vọng về lạm phát và kết quả là lạm phát thấp tương ứng. Tỷ giá cố định còn tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư nhờ giảm độ biến thiên của tỷ giá. Mặt khác, hai ưu điểm nổi bật nhất của cơ chế tỷ giá thả nổi là cho phép thực thi chính sách tiền tệ độc lập và tự động điều chỉnh với các cú sốc ngoại thương.
Chẳng hạn, giá xuất khẩu hàng hóa cơ bản giảm mạnh làm điều kiện trao đổi ngoại thương trở nên bất lợi (TOT),7 kéo theo thâm hụt thương mại lớn, nếu tỷ giá được thả nổi thì ngân hàng trung ương có thể hạ lãi suất và phá giá đồng tiền để cải thiện cán cân thương mại cũng như tăng trưởng kinh tế. Ngân hàng trung ương cũng có thể áp dụng quy tắc Taylor để xác lập mức lãi suất chính sách và điều chỉnh cung tiền để đạt mức lãi suất này. Đây là quy tắc được đề xuất bởi nhà kinh tế John Taylor (1993). Theo đó, ngân hàng trung ương sẽ điều chỉnh lãi suất điều hành một khi lạm phát lệch khỏi mức mục tiêu và/hoặc GDP thực lệch khỏi GDP tiềm năng trong dài hạn.
Tuy nhiên, quy tắc Taylor không đưa vào các cú sốc kinh tế bất thường và các biến số kinh tế khác ngoài tăng trưởng và lạm phát có thể ảnh hưởng đến lãi suất, nên khó đưa ra một chỉ báo lãi suất tốt trong ngắn hạn (Svensson, 2003). Một mục tiêu khác mà ngân hàng trung ương nhiều nước đang áp dụng là tuyên bố một mức lạm phát mục tiêu nào đó và điều chỉnh cung tiền để đảm bảo đạt mục tiêu này cộng thêm một biên độ cho phép. Ngoài khắc phục điểm yếu của mục tiêu tăng trưởng cung tiền, chính 7 TOT = PX/PM, trong đó PX là giá xuất khẩu, PM là giá nhập khẩu. Cú sốc ngoại thương tích cực là khi giá xuất khẩu hàng hóa cơ bản tăng và/hoặc giá nhập khẩu hàng hóa cơ bản giảm.
-8- sách lạm phát mục tiêu được các nhà kinh tế học ủng hộ bởi cho phép ngân hàng trung ương tập trung vào các mối quan tâm trong nước, dễ thuyết phục và giải thích đối với công chúng, đồng thời tăng sự minh bạch và trách nhiệm giải trình của ngân hàng trung ương trong việc đạt được mục tiêu này (Mishkin, 2000). Ngược lại, Mishkin (2000) cũng dẫn ra một số bất lợi của lạm phát mục tiêu. Chẳng hạn như lạm phát mục tiêu quá cứng nhắc, có khả năng tăng tính bất ổn cho nền kinh tế do việc bỏ qua sự trồi sụt của sản lượng và giá cả. Cuối cùng, ngân hàng trung ương có thể công bố GDP danh nghĩa mục tiêu.
Về mặt lý thuyết, cả lạm phát mục tiêu và GDP danh nghĩa mục tiêu đều phản ứng hiệu quả với cú sốc cầu. Lấy ví dụ, tâm lý lạc quan nào đó khiến cho các nhà đầu tư và hộ gia đình tăng đầu tư và tiêu dùng nhiều hơn. Nền kinh tế có dấu hiệu tăng trưởng nóng, tăng trưởng kinh tế và lạm phát mới bắt đầu tăng cao. Điều này sẽ làm cho cả lạm phát và GDP danh nghĩa vượt xa khỏi mục tiêu đã cam kết.
Vì thế, các nhà hoạch định chính sách cần phản ứng liền sau bằng cách thắt chặt tiền tệ sao cho tiệm cận mục tiêu. Ngược lại, khi lạm phát và GDP danh nghĩa mới có xu hướng thấp hơn mục tiêu, các nhà điều hành cần tăng cung tiền hoặc giảm lãi suất. Tuy vậy, GDP danh nghĩa mục tiêu vượt trội hơn lạm phát mục tiêu trong trường hợp có cú sốc cung và cú sốc ngoại thương (Bhandari và Frankel, 2015; Sumner, 2014). Chẳng hạn, cú sốc cung tiêu cực xảy ra gồm như khô hạn, bão lụt, xâm ngập mặn, sâu bệnh, công nhân đình công, bạo động, chiến tranh và các cú sốc khác.
Nếu lạm phát dần vuợt xa khỏi lạm phát mục tiêu thì chính sách tiền tệ cần thắt chặt để giảm mức giá xuống, nhưng cũng làm sụt giảm nghiêm trọng thêm sản lượng (và tất nhiên GDP danh nghĩa). Trong khi dưới cơ chế GDP danh nghĩa mục tiêu, các nhà điều hành chính sách tiền tệ không cần phản ứng điều chỉnh chính sách, có thể chấp nhận lạm phát cao miễn sao đạt được mục tiêu. Nếu GDP danh nghĩa thấp hơn mục tiêu, ngân hàng trung ương có thể phá giá đồng nội tệ, giúp cải thiện cán cân thương mại và chia tác động tiêu cực của cú sốc lên cả lạm phát và sản lượng. Ngược lại, cú sốc cung tích cực, chẳng hạn như phát minh công nghệ, khiến cho đường tổng cung dịch qua phải.
Khi lạm phát bắt đầu thấp hơn mục tiêu, ngân hàng trung ương phải thực thi chính sách tiền tệ mở rộng nhưng động thái này có nguy cơ gây ra một đợt bùng phát giá tài sản nếu như sản lượng vượt quá mức tiềm năng. Dưới cơ chế GDP danh nghĩa mục tiêu, ngân hàng trung ương được phép linh hoạt điều chỉnh chính sách, thậm chí rút bớt tiền khỏi lưu thông ngay sau khi có dấu hiệu cho thấy lạm phát và giá tài sản tăng lên.