CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TỶ GIÁ, CAN THIỆP TỶ GIÁ VÀ ÁP LỰC THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI 1.1 Tổng quan về tỷ giá và thị trường ngoại hối 1.1 Lý luận chung về tỷ giá và thị trường ngoại hối Thị trường ngoại hối là thị trường trong đó các cá nhân, công ty và ngân hàng mua và bán ngoại tệ hoặc ngoại hối. Thị trường ngoại hối cho bất kỳ loại tiền nào — ví dụ, đô la Mỹ — bao gồm tất cả các địa điểm (chẳng hạn như London, Paris, Zurich, Frankfurt, Singapore, Hong Kong, Tokyo và New York) nơi đô la được mua và bán với các tiền tệ khác. Các trung tâm tiền tệ khác nhau này được kết nối điện tử và liên lạc thường xuyên với nhau, do đó hình thành một thị trường ngoại hối quốc tế duy nhất. Chức năng chính của thị trường ngoại hối là chuyển đổi sức mua của đồng tiền quốc gia này sang sức mua của đồng tiền quốc gia khác bằng hình thức chuyển khoản điện tử và Internet.
Nhu cầu trao đổi tiền tệ đến từ các hoạt động như du lịch, xuất nhập khẩu, đầu tư nước ngoài, vay nợ từ quốc gia hay kiều hối. Do các giao dịch ngoại tệ thường được thực hiện xuyên quốc gia và được thực hiện thông qua các ngân hàng nên các ngân hàng thương mại của một quốc gia hoạt động như những tổ chức thanh toán bù trừ cho các giao dịch ngoại tệ của quốc gia đó. Các thành viên tham gia trên thị trường ngoại hối có thể được chia thành bốn cấp độ khác nhau. Ở cấp độ đầu tiên là những người thực hiện các giao dịch ngoại hối phục vụ cho mục đích cá nhân như du lịch, học tập hoặc cho hoạt động kinh doanh như các nhà xuất nhập khẩu, nhà đầu tư…Đây là những người trực tiếp sử dụng ngoại tệ.
Ở cấp độ tiếp theo, cấp độ thứ hai, là các ngân hàng thương mại, hoạt động như những tổ chức thanh toán bù trừ giữa người mua và bán ngoại tệ. Ở cấp độ thứ ba là các nhà môi giới ngoại hối, thông qua đó các ngân hàng thương mại thực hiện các giao dịch ngoại hối với nhau (gọi là thị trường liên ngân hàng hoặc thị trường bán buôn). Cuối cùng, ở cấp thứ tư và cao nhất là ngân hàng trung ương của quốc gia, đóng vai trò là người bán hoặc người mua cuối cùng khi có mất cân bằng cung cầu trên thị trường ngoại hối làm ảnh hưởng đến tỷ giá. Chức năng tiếp theo của thị trường ngoại hối là chức năng tín dụng.
Hoạt động xuất nhập khẩu giữa các quốc gia thường mất thời gian vận chuyển và để tạo điều kiện cho người mua có thời gian bán lại hàng hóa và thanh toán, nhà xuất khẩu cho phép 90 ngày 7 để nhà nhập khẩu thanh toán. Tuy nhiên, nhà xuất khẩu thường chiết khấu nghĩa vụ thanh toán của nhà nhập khẩu với ngân hàng để nhận được tiền thanh toán ngay lập tức, sau đó ngân hàng sẽ thu tiền nhà nhập khẩu khi đến hạn. Bên cạnh đó, thị trường ngoại hối còn là cung cấp các biện pháp để bảo hiểm rủi ro và thực hiện hoạt động đầu cơ. Với sự phát triển của công nghệ thông tin ngày nay, thị trường ngoại hối đã thực sự trở nên toàn cầu theo nghĩa là các giao dịch tiền tệ giờ đây chỉ cần vài giây để thực hiện và có thể diễn ra 24 giờ mỗi ngày.
Khi các ngân hàng kết thúc ngày làm việc thông thường ở San Francisco và Los Angeles, các ngân hàng tại Singapore, Hồng Kông, Sydney và Tokyo sẽ mở cửa; vào thời điểm các ngân hàng tại Singapore, Hồng Kông, Sydney và Tokyo kết thúc ngày làm việc, các ngân hàng ở London, Paris, Zurich, Frankfurt và Milan sẽ mở cửa. Tỷ giá là giá của đồng tiền này được tính bằng đồng tiền khác. Tỷ giá có thể được thể hiện bằng hai cách khác nhau, giá của đồng ngoại tệ tính bằng đồng nội tệ hoặc giá của đồng nội tệ tính bằng đồng ngoại tệ. Ví dụ, vào ngày 17/7/2022 để mua một đồng đô la Mỹ (USD) tại Ngân hàng ngoại thương Việt Nam, chúng ta cần có 23580 Việt Nam đồng (VND) hay cần có 0,00004264USD để mua một VND.
Tại Việt Nam tỷ giá được thể hiện là số đồng nội tệ (VND) để mua một đồng ngoại tệ. Tại nghiên cứu này tỷ giá được hiểu là số VND để mua một đồng ngoại tệ (USD). Với cách hiểu tỷ giá này, khi tỷ giá tăng sẽ cần nhiều VND hơn để mua một đồng USD, khi đó đồng USD tăng giá và đồng VND mất giá. Ngược lại khi tỷ giá giảm, sẽ cần ít VND hơn để mua một USD, khi đó VND tăng giá và USD giảm giá.
Đối với bất kỳ quốc gia nào, có nhiều tỷ giá hối đoái danh nghĩa. VND có thể được sử dụng để mua USD, yên Nhật, bảng Anh, peso Mexico, v. Vì vậy, chỉ số trung bình của các tỷ giá hối đoái khác nhau được sử dụng để nghiên cứu về những thay đổi của tỷ giá hối đoái. Điều này cũng tương tự như chỉ số giá tiêu dùng biến nhiều mức giá trong nền kinh tế thành một thước đo duy nhất về mức giá, một chỉ số tỷ giá hối đoái biến nhiều tỷ giá hối đoái này thành một thước đo duy nhất cho giá trị quốc tế của một loại tiền tệ.
Do đó, khi đề cập đến một đồng tiền tăng giá hay giảm giá là đề cập đến một chỉ số tỷ giá hối đoái bao gồm nhiều tỷ giá hối đoái riêng lẻ. Tỷ giá hối đoái của đồng tiền một quốc gia phụ thuộc vào chế độ tỷ giá mà quốc gia đó thực hiện. Chế độ tỷ giá hối đoái là cách thức một quốc gia quản lý đồng tiền của mình trong việc trao đổi với đồng tiền của quốc gia khác. Các quốc gia khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm và sự phát kinh tế của mình mà có chế độ tỷ giá hối đoái khác nhau, bao gồm chế 8 độ tỷ giá hối đoái cố định và chế độ tỷ giá thả nổi.
Với chế độ tỷ giá hối đoái cố định: Ngân hàng trung ương sẽ quy định mức tỷ giá hối đoái trên thị trường và can thiệp để duy trì mức tỷ giá này. Khi tỷ giá hối đoái trên thị trường ngoại hối biến động lệch khỏi tỷ giá do ngân hàng trung ương ấn định, ngân hàng trung ương sẽ thực hiện mua (khi tỷ giá giảm) hoặc bán (khi tỷ giá tăng) ngoại tệ trên thị trường ngoại hối. Lịch sử ra đời của chế độ tỷ giá hối đoái này từ Hội nghị quốc tế tổ chức ở Bretton Woods (Mỹ) vào năm 1944 nên được gọi là chế độ Bretton Woods. Trong chế độ này, giá của đồng đô la Mỹ được cố định theo vàng, tiền của các nước tham gia hệ thống được cố định theo đồng đô la Mỹ.
Ngoài ra quỹ tiền tệ quốc tế IMF đã được hình thành để quản lý hệ thống này và làm một số chức năng NHTW quốc tế. Với chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi : chế độ tỷ giá giá hối đoái này có hai chế độ tỷ giá hối đoái đó là chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi hoàn toàn và chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý. - Chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý: Ở chế độ tỷ giá hối đoái này, ngân hàng trung ương cũng qui định mức tỷ giá hối đoái trên thị trường. Tuy nhiên, ngân hàng trung ương cho phép tỷ giá biến động trong một biên độ nhất định phù hợp với các điều kiện của thị trường.
Khi có những biến động lớn về tỷ giá hối đoái gây bất lợi cho nền kinh tế thì ngân hàng trung ương sẽ can thiệp để đảm bảo tỷ giá không biến động vượt quá giới hạn cho phép. - Chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi hoàn toàn: Với chế độ tỷ giá này, tỷ giá trên thị trường ngoại hối được xác định hoàn toàn dựa trên cân bằng cung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối mà không có bất kỳ sự can thiệp nào từ phía ngân hàng trung ương. Cung ngoại tệ trên thị trường ngoại hối đến từ luồng vốn chảy vào quốc gia, một số nguồn cung ngoại tệ chính bao gồm từ hoạt động xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ, từ đầu tư nước ngoài, từ khách du lịch, kiều hối…. Cung ngoại tệ biểu diễn trên đồ thị là một đường dốc lên thể hiện khi tỷ giá tăng (thể hiện trên trục tung) lượng ngoại tệ (thể hiện trên trục hoành) cung cấp trên thị trường sẽ tăng.
Cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối đến từ các nhu cầu phát sinh lượng ngoại tệ đi ra khỏi đất nước, như nhu cầu nhập khẩu hàng hóa, đầu tư ra nước ngoài, người dân ra nước ngoài công tác, học tập, du lịch. Cầu ngoại tệ biểu diễn trên đồ thị là một đường dốc xuống thể hiện khi tỷ giá tăng, lượng cầu ngoại tệ sẽ giảm xuống. 9 Hình 1 Cân bằng trên thị trường ngoại hối E S E0 D 0 Q0 Q Thị trường ngoại hối đạt trạng thái cân bằng khi cung ngoại tệ bằng cầu ngoại tệ và tỷ giá hối đoái được xác định (Hình 1). Bất kỳ yếu tố nào làm thay đổi cung và cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối sẽ làm tỷ giá hối đoái thay đổi.
Một số yếu tố tác động đến tỷ giá bao gồm : Sự thay đổi trong cán cân thương mại (NX = Ex - Im): Khi cán cân thương mại được cải thiện do xuất khẩu tăng làm cung ngoại tệ tăng, làm cho E giảm. Chênh lệch lãi suất trong nước với lãi suất thế giới (r*): Lãi suất trong nước cao hơn so với lãi suất thế giới, xuất hiện một dòng vốn chảy vào trong nước, cung ngoại tệ tăng, từ đó khiến giá ngoại tệ giảm. Ngược lại, khi lãi suất trong nước thấp hơn lãi suất thế giới, vốn chạy ra khỏi đất nước làm tăng cầu ngoại tệ và giảm cung ngoại tệ, dẫn đến E tăng Chênh lệch giá cả trong nước với giá thế giới (P*): Khi giá hàng hóa trong nước cao hơn giá hàng hóa thế giới, tức hàng hóa trong nước trở nên đắt đỏ hơn trên thị trường thế giới, dẫn đến giảm xuất khẩu và khuyến khích nhập khẩu, làm cung ngoại tệ giảm, cầu ngoại tệ tăng, đồng ngoại tệ tăng giá (E tăng) và ngược lại Tỷ giá hối đoái được thể hiện bằng đơn vị tiền tệ của các quốc gia được gọi là tỷ giá hối đoái danh nghĩa. Ngoài ra tỷ giá hối đoái cũng được thể hiện bằng giá tương đối của hàng hóa và dịch vụ giữa hai quốc gia, khi đó ta có tỷ giá hối đoái thực ().