CHƯƠNG 1. LÝ THUYẾT CHUNG VỀ RỦI RO TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ PHÒNG NGỪA RỦI RO TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CHƯƠNG 2. HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU VÀ THỰC TRẠNG PHÒNG NGỪA RỦI RO TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TRONG HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU TẠI CÔNG TY TNHH TN TECHNICS & CONSTRUCTION TRONG 3 NĂM VỪA QUA CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA RỦI RO TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TRONG HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU TẠI CÔNG TY TNHH TN TECHNICS & CONSTRUCTION.
LÝ THUYẾẾT CHUNG VẾỀ R Ủ I RO T ỶGIÁ HỐẾI ĐOÁI VÀ PHÒNG NG Ừ AR ỦI RO T ỶGIÁ HỐẾI ĐOÁI 1. Lý luận chung về tỷ giá hối đoái 1. Tỷ giá hối đoái 1.Khái niệm tỷ giá hối đoái Nền kinh tế thế giới đang ngày một phát triển, kéo theo đó là sự mở rộng các mối quan hệ kinh tế, tài chính, thương mại,… Do các nước trên thế giới đều sử dụng những đồng tiền riêng, nên để thuận tiện hơn trong quá trình phân tích hiệu quả kinh tế, so sánh, thanh toán khi tham gia các hoạt động mua bán quốc tế, phản ánh sức mua giữa các đồng tiền riêng đó, khái niệm “Tỷ giá hối đoái” ra đời. Tỷ giá hối đoái là mối quan hệ so sánh sức mua giữa các đồng tiền với nhau, hay là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước này thể hiện bằng một số đơn vị tiền tệ nước kia.
TGHĐ thể hiện mối quan hệ về giá trị giữa hai đồng tiền khác nhau Ví dụ: Một DN Việt Nam xuất khẩu một lô hàng có giá trị 2.000 VND sang Mỹ. DN nhập khẩu tại Mỹ thanh toán cho lô hàng đó 100. Như vậy, 1 USD = 23. Đây là TGHĐ giữa hai đồng VND và USD.
Trong phạm vi lớn hơn, vì các nhà kinh tế quan tâm tới nền kinh tế với một tư cách tổng thể, nên họ chú ý tới mức giá chung chứ không xem xét từng loại giá riêng biệt. Sau quá trình nghiên cứu, các nhà kinh tế học đã rút ra một công thức tổng quát để tính TGHĐ thực tế với chỉ số TGHĐ danh nghĩa x Giá trong nước 6 giá của mỗi nước là: Tỷ giá hối đoái thực tế = Giá nước ngoài Đồng tiền yết giá (Commodity Currency – C) với tư cách là hàng hóa và được mua bán, đồng tiền còn lại làm nhiệm vụ định giá cho đồng tiền yết giá có tư cách là tiền tệ, đảm nhiệm chức năng thanh toán cho việc mua bán đồng tiền yết giá được gọi là đồng tiền định giá (Terms Currency – T). Trên thị trường phổ biến có hai cách niêm yết tỷ giá: - Đồng tiền yết giá đứng trước Ví dụ: USD là đồng yết giá, VND là đồng định giá => tỷ giá đươc niêm yết là USD/VND = 23.360 - Đồng tiền yết giá đứng sau Ví dụ: USD là đồng yết giá, VND là đồng định giá => tỷ giá đươc niêm yết là 1 USD = 23.Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái TGHĐ là một trong những nhân tố quan trọng được quan tâm đặc biệt trong nền kinh tế tự do. Bởi những hoạt động thương mại quốc tế của quốc gia càng phát triển thì đòi hỏi phải có sự tính toán về giá cả, tiền tệ với các nước đối tác.
TGHĐ là mối quan hệ so sánh sức mua của các đồng tiền với nhau. Mà sức mua của các đồng tiền của mỗi quốc gia biến động không ngừng theo thời gian, ngoài ra nó còn chịu ảnh hưởng 7 bởi quy luật cung - cầu, quy luật giá cả… Chính vì thế TGHĐ cũng thay đổi khi các nhân tố tác động tới nó thay đổi. Dưới đây là những yếu tố ảnh hưởng đến TGHĐ: - Tốc độ tăng trưởng kinh tế quốc gia Đây là nhân tố phản ánh rõ ràng, chân thực và đúng bản chất nhất của TGHĐ. Khi tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia nhanh và ổn định thì sức mua của đồng tiền quốc gia đó sẽ tăng, đồng tiền của quốc gia đó trở nên có giá trị hơn, dẫn tới tỷ giá hối đoái có chiều hướng giảm.
Ngược lại, khi tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia chậm lại thì tỷ giá hối đoái có chiều hướng tăng lên. - Tình trạng cán cân thanh toán quốc tế Cán cân thanh toán là bảng cân đối ghi lại các khoản thu nhập và chi trả của một nước với thế giới bên ngoài trong một thời kỳ nhất định nào đó (thường là 1 năm). Cán cân thanh toán quốc tế (TTQT) của một quốc gia phản ánh mối quan hệ cung – cầu về ngoại tệ của nước đó. Khi cán cân TTQT bội thu (dương), nghĩa là cung về ngoại tệ lớn hơn cầu về ngoại tệ nên tỷ giá hối đoái có chiều hướng giảm đi.
Ngược lại khi cán cân TTQT bội chi (âm) thì TGHĐ có chiều hướng tăng lên. - Mức lạm phát của đồng tiền quốc gia Đối với bất kỳ nền kinh tế nào lạm phát luôn là yếu tố quan trọng tác động trực tiếp tới sức mua của đồng tiền nước đó, vì thế lạm phát ảnh hưởng trực tiếp tới TGHĐ. Khi mức lạm phát của đồng tiền quốc gia cao hơn ngoại tệ thì TGHĐ với ngoại tệ đó có xu hướng tăng. Ngược lại, khi mức lạm phát của đồng tiền quốc gia thấp hơn ngoại tệ thì tỷ giá hối đoái với ngoại tệ đó sẽ có xu hướng giảm.
Nếu gọi tỷ giá trước khi có ảnh hưởng của lạm phát của đồng A và 8 B là e, lạm phát của nước A là Ia, lạm phát của nước B là Ib (trong cùng 1 đơn vị thời gian) thì tỷ giá của đồng A và B sau khi có lạm phát sẽ là: A/B = e x Như vậy, lạm phát có quan hệ cùng chiều với mức độ lạm phát của đồng tiền quốc gia. - Chính sách trong lĩnh vực tiền tệ Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong chính sách TGHĐ của mỗi quốc gia. Nhà nước có thể dùng các công cụ quản lý của mình để thay đổi cung – cầu ngoại tệ như: Các quy định về quản lý ngoại tệ, quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc, các chính sách về lãi suất,… hay áp dụng các chế độ tỷ giá (thả nổi, cố định,…) từ đó ảnh hưởng tới TGHĐ. Ví dụ: Khi lãi suất tiền gửi ngoại tệ ở các ngân hàng trong nước tăng thì ngoại tệ có xu hướng chảy vào thị trường trong nước, làm cung ngoại tệ tăng, tỷ giá có xu hướng giảm.
Sự hoạt động của Nhà nước không thể tách rời hoạt động của Ngân hàng Trung ương (NHTW). Đối với các ngân hàng áp dụng tỷ giá thả nổi có quản lý của Nhà nước như Việt Nam thì những hoạt động này lại càng đóng vai trò quan trọng, có thể kết hợp hàng loạt các biện pháp can thiệp của NHTW để tác động TGHĐ trên thị trường như lãi suất chiết khấu, sử dụng quỹ bình ổn chiết khấu, phá giá tiền tệ,… mục tiêu tối quan trọng nhất của hoạt động này là nhằm hạn chế những khuyết điểm của chế độ tỷ giá thả nổi, đồng thời tạo môi trường thuận lợi nhất cho quá trình phát triển kinh tế. - Yếu tố tâm lý Các yếu tố tác động tới tâm lý tiêu dùng thường là các tin tức về tình hình kinh tế - chính trị - xã hội, về các rủi ro của hệ thống tài chính 9 ngân hàng về các quyết định, chính sách quan trọng của chính phủ và NHTW về lãi suất, chính sách tài chính, tiền tệ và giá cả. Các yếu tố tâm lý này sẽ gây ra các tác động mang tính chất ngắn hạn và tức thời làm thay đổi mối quan hệ cung cầu trên thị trường, do đó ảnh hưởng tới sự biện động của TGHĐ.
Bên cạnh đó trong nền kinh tế sẽ xuất hiện các hiện tượng đầu cơ mua, đầu cơ bán, găm giữ các loại ngoại tệ khiến cho TGHĐ biến động khó lường, gây ra khó khăn cho hoạt động quản lý về tỷ giá của Nhà nước. Ví dụ: Khi người tiêu dùng lo sợ tình hình kinh tế sẽ gặp khó khăn trong các năm tới, dòng tiền nội tệ sẽ bị mất giá so với ngoại tệ, nên họ sẽ có xu hướng tích trữ ngoại tệ, làm cho cầu về ngoại tệ tăng trong khi cung về ngoại tệ không đổi nên TGHĐ sẽ tăng.Tác động của tỷ giá hối đoái đến hoạt động kinh doanh nhập khẩu TGHĐ được xem xét là một trong những nhân tố quan trọng được quan tâm đặc biệt trong nền kinh tế tự do, tác động đến hầu hết các mặt hoạt động của nền kinh tế của một quốc gia. Khi hoạt động kinh tế, sản xuất ngày càng phát triển, thị trường đầu ra nội địa sẽ ngày càng bị chia nhỏ hơn nên nhu cầu vươn ra các thị trường mới là điều vô cùng bức thiết. Nhưng khi kinh doanh ở thị trường nước ngoài là không đơn thuần như kinh doanh tại thị trường trong nước, công ty phải đối mặt với nhiều vấn đề cần giải quyết hơn như: Rủi ro về chính trị, kinh tế, pháp luật của nước ngoài, vướng mắc trong vấn đề huy động vốn, quảng bá sản phẩm, các vấn đề về văn hóa, tôn giáo,… Chính vì vậy để tận dụng được lợi thế thị trường mới, lợi nhuận tiềm năng từ thị trường ngoài nước, các công ty kinh doanh ra thị trường nước ngoài cần phải có các chính sách, chiến lược kinh doanh hiệu quả, cũng 10 như các phương án phòng tránh các rủi ro, rào cản gặp phải.
Trong các rủi ro và rào cản mà công ty gặp phải khi kinh doanh ở thị trường ngoài nước thì RRTGHĐ là rủi ro tác động mạnh và trực tiếp nhất tới lợi nhuận và kết quả, chiến lược kinh doanh của công ty. TGHĐ có thể tác động tốt (gia tăng lợi nhuận) hoặc tác động xấu (giảm trừ lợi nhuận) tới công ty. Hoạt động kinh doanh nhập khẩu là một hoạt động trong các hoạt động của kinh doanh quốc tế nên vì thế TGHĐ cũng tác động trực tiếp tới hoạt động kinh doanh nhập khẩu. Giả dụ, khi một DN trong nước muốn mua hàng hóa, dịch vụ nước ngoài thì cần phải thanh toán bằng ngoại tệ thông qua các nghiệp vụ hối đoái, thông qua hệ thống ngân hàng.
Muốn thanh toán được nhà Nhập khẩu phải đổi nội tệ của mình sang đồng tiền thanh toán cho bên Xuất khẩu (ngoại tệ). Do vậy, hoạt động nhập khẩu chịu ảnh hưởng của TGHĐ của đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ. Khi TGHĐ tăng thì hoạt động nhập khẩu sẽ chịu bất lợi vì họ phải bỏ ra nhiều đồng nội tệ hơn để thanh toán cho cùng một lượng hàng hóa, dịch vụ mua về.