Chương 1: Giới thiệu đề tài Vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài và kết cấu đề tài. Chương 2: Tổng quan khuôn khổ lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm Trình bày nội dung chính của các mô hình lý thuyết kinh tế học chuẩn tắc liên quan tới chính sách tiền tệ trong nền kinh tế mở, cùng với giới thiệu tổng quan về các kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ. Bên cạnh đó, tóm lượt các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước cho chủ để chính sách tiền tệ. 7 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu Trình bày phương pháp định lượng và dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trình bày kết quả tham số ước lượng cho mô hình nghiên cứu, kết quả hàm phản ứng xung cho từng cú sốc và phân rã phương sai. Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách Từ kết quả đã trình bày ở chương 4, chương 5 đưa ra kết luận và những nhận xét về các kết quả nghiên cứu, từ đó đề xuất các kiến nghị chính sách, đồng thời nêu lên hạn chế của đề tài. 8 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN KHUÔN KHỔ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.1 Khuôn khổ New Keynesian trong phân tích chính sách tiền tệ Cách tiếp cận New Keyensian trong phân tích chính sách tiền tệ nổi lên trong những năm gần đây như một công cụ kinh tế lượng có tầm ảnh hưởng rộng lớn nhất. Nó cung cấp cho nhà nghiên cứu một khuôn khổ kết hợp giữa lý thuyết chu kỳ kinh tế (RBC) với các thành phần của trường phái Keynes như thị trường cạnh tranh không hoàn hảo và tính cứng nhắc trong giá cả danh nghĩa.
Khuôn khổ này cũng trở thành một nền tảng cho các phát triển mới trong việc mô hình hóa nền kinh tế tại các ngân hàng trung ương, và được sử dụng ngày càng nhiều cho mục đích ước lượng, cũng như dự báo. Trong các mô hình của trường phái New Keynes, những nội dung về thất bại thị trường và tính không linh hoạt của giá cả thuộc về trường phái Keynes, cùng với giả thuyết tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, cũng như tính đề cao chính sách tiền tệ thuộc trường phái trọng tiền, khái niệm kỳ vọng hợp lý, tất cả được kết hợp lại tạo nên một khuôn khổ lý thuyết có nền tảng vi mô từ các mô hình chu kỳ kinh tế (RBC). Các nhà nghiên cứu sử dụng các mô hình New Keynesian trong việc việc phát triển các mô hình tiên tiến và đa dạng hơn, mà trong đó sự thất bại của thị trường được phát sinh bởi các cá nhân khi họ tìm cách tối đa hóa hữu dụng của mình (Chứ không đơn thuần là giả thuyết liên quan tới hành vi) với mục tiêu là đạt được những hiểu biết cần thiết để cải thiện sự bất hoàn hảo của thị trường và một phần thất bại thị trường trong chu kỳ kinh doanh. Một cách khái quát, các mô hình New Keynesian hướng tới xác định sâu rộng nền tảng kinh tế vi mô, thay vì chấp nhận chúng và chỉ xem xét các vấn đề vĩ mô như các mô hình Keynesian trước đó.
Theo Rotheim (1998), mô hình của trường phái New Keynes tập trung vào sự phản ứng của các chủ thể kinh tế trước những thay đổi trong các biến số danh nghĩa quan sát được từ sản lượng, thị trường vốn và thị trường lao động, chẳng hạn như sự dao động nguồn lực trong sản lượng và việc làm. Một khía cạnh quan trọng trong các mô hình New Keynesian là khái niệm tính cứng nhắc 9 của giá cả và tiền lương, theo Roberts (1995), “Giá cả cứng nhắc là một phần quan trọng của các mô hình tiền tệ theo chu kỳ kinh doanh. Những năm gần đây, một sự đồng thuận trong giới nghiên cứu được hình thành xung quanh nền tảng vi mô của các mô hình về giá cả cứng nhắc, và sự đồng thuận này là một phần quan trọng trong nền kinh tế theo trường phái New Keynes”. Để lý giải cho vấn đề giá cả cứng nhắc, trường phái New Keynes đã ứng dụng những thành tựu mới nhất trong kinh tế vĩ mô như lý thuyết về thị trường không hoàn hảo, thông tin không hoàn hảo hoặc những đặc điểm thể chế trên thị trường lao động như ảnh hưởng của nghiệp đoàn.
Trường phái New Keynes hiện nay đưa ra ba lý luận chính bao gồm: hợp đồng dài hạn, tiền công hiệu suất và chi phí thực đơn. Lý luận về hợp đồng lao động dài hạn: Giả thuyết này cho rằng để giữ lao động làm việc cho mình lâu dài, giới chủ thường ký những hợp đồng làm việc dài hạn. Chính vì vậy mà lương theo hợp đồng không thể có sự điều chỉnh đột ngột. Trong trường hợp có thay đổi hợp đồng, vì không thể tất cả các doanh nghiệp và các ngành trong nền kinh tế cùng thay đổi hợp đồng vào cùng một thời điểm, nên chỉ có một bộ phận lao động là được thay đổi tiền công.
Xét bình quân toàn nền kinh tế, thì tiền công vẫn không đổi. Lý luận về tiền công hiệu suất: Để khuyến khích lao động nhiệt tình và giữ lao động lành nghề, ngay cả trong thời điểm thất nghiệp phát sinh, giới chủ vẫn có thể không cắt giảm tiền công. Khi mà tiền công không bị cắt giảm (cũng có nghĩa là giá cả lao động không hạ xuống), thì thất nghiệp (dư cung lao động) vẫn không được giải quyết, thị trường lao động vẫn mất cân bằng. Lý luận về chi phí thực đơn: Vì thị trường có tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo, nên dù thị trường có biến động thì xí nghiệp chưa chắc đã thay đổi giá bán của mình.
Lý do là chi phí để điều chỉnh thông báo về giá bán (giống như chi phí in lại thực đơn) có thể cao hơn lợi ích mà xí nghiệp thu được do điều chỉnh giá. Hiện nay, các mô hình New Keynesian ngày càng đa dạng để phục vụ cho những mục đích nghiên cứu khác nhau, và trong đề tài “Ảnh hưởng của cú sốc chính 10 sách tiền tệ đến các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế Việt Nam”, tác giả sẽ sử dụng một mô hình New Keynesian đơn giản. Mô hình này giả định nền kinh tế gồm có 3 thành phần: hộ gia đình, các doanh nghiệp và chính phủ (ngân hàng trung ương). Các thành phần kinh tế luôn tối đa hóa hàm mục tiêu của họ đi kèm với một số ràng buộc.
Mô hình cũng giả định hàng hóa khác biệt và cạnh tranh độc quyền, cho phép các doanh nghiệp định giá. Một giả định xa hơn là việc điều chỉnh tính cứng nhắc của giá cả - chỉ có một tỷ lệ công ty nhất định có thể điều chỉnh giá theo từng thời kỳ, điều này làm cho chính sách tiền tệ sẽ không còn mang tính trung lập nữa. Mô hình bao gồm ba phương trình cho trường hợp nền kinh tế đóng, gồm đường cong IS xác định sản lượng; đường cong Phillips xác định lạm phát; và quy tắc lãi suất xác định hành vi của chính sách tiền tệ. Trong trường hợp nền kinh tế mở, mô hình có thêm phương trình thể hiện tỷ giá đồng nội tệ theo quy tắc cân bằng lãi suất không phòng ngừa.
Mô hình New Keynesian nói chung có lý thuyết dễ dàng ứng dụng trong công việc nghiên cứu, tương ứng cấu trúc trong mô hình truyền thống IS/LM nhưng được bắt đầu xác định từ kinh tế vi mô với các yếu tố đại diện được tối ưu hóa. Để tránh được những phê bình của Lucas – sự kỳ vọng là hợp lý và thay đổi theo những thay đổi trong chính sách. Hơn nữa, mô hình này tập trung trên chính sách lãi suất, điều này thì ngược với truyền thống thường tập trung vào những thay đổi trong tiền tệ cơ sở. Điều này phù hợp với thực tế hiện nay, bởi vì những nhà làm chính sách của ngân hàng trung ương tập trung chủ yếu vào sự thay đổi của lãi suất danh nghĩa mục tiêu liên ngân hàng qua đêm, và từ bỏ việc vận dụng tiền cơ sở tác động đến các chuyên gia giao dịch để đạt được những mục tiêu đó.
Chính sách tiền tệ trong mô hình này tác động đến sản lượng trực tiếp thông qua lãi suất thực và tác động gián tiếp đến lạm phát thông quan sản lượng. Được xây dựng dựa trên một nền tảng lý thuyết rõ ràng, không chỉ kế thừa lý luận truyền thống mà còn xem xét cả những hiện tượng thực tế trên thị trường, mô hình New Keynesian đã được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng trong việc phân tích chính sách tiền tệ trong nền kinh tế. Có thể kể đến những nghiên cứu tiêu biểu như: 11 Gali và Monacelli (2005) thiết lập một mô hình tối ưu cho nền kinh tế nhỏ mở với giá cả có tính cứng nhắc (theo Calvo), và thể hiện cách thức để các quan hệ tổng thể động có thể được đơn giản hóa trong việc biểu diễn lạm phát nội địa, cũng như lỗ hổng sản lượng. Các nhà nghiên cứu lần lượt sử dụng mô hình thiết lập được vào phân tích các tác động vĩ mô trong ba chế độ chính sách cho nền kinh tế nhỏ mở: chế độ thứ nhất có lạm phát nội địa dựa trên quy tắc Taylor, chế độ thứ hai có CPI dựa trên quy tắc Taylor và chế độ thứ ba có tỷ giá thả nổi có kiểm soát.
Nghiên cứu cho thấy điểm khác biệt chính giữa ba chế độ này nằm ở mức độ biến động tỷ giá hối đoái mà chúng đòi hỏi. Nghiên cứu cũng thảo luận về một trường hợp đặc biệt, trong đó lạm phát mục tiêu hình thành nên chính sách tối ưu, nơi mà việc ước lượng xấp xỉ mức hữu dụng của người tiêu dùng có thể thực hiện và được sử dụng trong đo lường tổn thất phúc lợi liên quan tới các quy tắc tối ưu hóa. Soderstrom và các đồng sự (2005) cho rằng các nhà nghiên cứu thường sử dụng mô hình hiệu chỉnh bởi vì các giải pháp phân tích thường không có sẵn mô hình, nên cho dù số liệu là phù hợp thì cũng chưa chắc mô hình đó phù hợp để phân tích chính sách. Do đó, mục đích của bài viết là kiểm tra xem mô hình New Keynesian có thể được hiệu chỉnh để phù hợp với các đặc thù của dữ liệu Mỹ.
Nhà nghiên cứu xem xét các quyết định của ngân hàng trung ương ảnh hưởng đến các đặc tính thời gian của lạm phát và lỗ hổng sản lượng như thế nào và cũng hiệu chỉnh mô hình để phù hợp với một số sự kiện biến động lớn trong nền kinh tế Mỹ.