Chương 1 : Giới thiệu Chương một nêu những lý do chính để thực hiện đề tài,ý nghĩa của việc nghiên cứu tính dai dẳng của lạm phát ở Việt Nam. Ngoài ra, chương một cũng cung cấp cho người đọc về mục tiêu, đối tượng, nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, cũng như phân tích những hướng phát triển thêm của đề tài trong tương lai. Chương 2 : Tổng quan lý thuyết Chương hai cung cấp cho người đọc lý thuyết và các mô hình có liên quan đến bài nghiên cứu thường được sử dụng để tính toán tính dai dẳng này. Ngoài ra, chương hai còn nêu ra các kết quả nghiên cứu thực nghiệm trước đây ở nhiều quốc gia và khu vực trên thế giới cũng như xu hướng tiếp cận và nghiên cứu hiện nay đối với đề tài này.
Chương 3 : Phương pháp nghiên cứu Chương ba trình bày về các phương pháp nghiên cứu, các mô hình sử dụng trong bài viết dựa trên việc xem xét các bài nghiên cứu có liên quan trước đây. Chương ba cũng bao gồm những trình bày về việc lựa chọn dữ liệu đầu vào, nguồn dữ liệu, phương pháp kiểm định và quy trình xử lý dữ liệu. Chương 4 : Kết quả nghiên cứu Chương 4 trình bày các kết quả nghiên cứu có được sau khi chạy các mô hình, bao gồm việc tính toán tính dai dẳng của lạm phát ở Việt Nam và các quốc gia phát triển dựa trên mô hình tự hồi quy AR cũng như tính toán tính dai dẳng của các nhóm hàng hóa thành phần và lạm phát cơ bản của nền kinh tế. Song song đó là việc kiểm định và thảo luận các kết quả vừa tìm được.
Chương 5 : Kết luận và kiến nghị Chương 5 tổng kết lại những kết quả đã thu thập được bao gồm việc so sánh, đối chiếu với các kết quả vừa tìm được với các kết quả trong những bài nghiên cứu trước đây để từ đó suy ra được những câu trả lời cho mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu được đặt ra ở chương một. Chương 5 còn nêu ra các kiến nghị từ kết quả nghiên cứu tìm được, từ đó làm một nguồn tham khảo cho người đọc cũng như những nhà quản lý kinh tế có cái nhìn rõ hơn về tính chất của lạm phát ở Việt Nam thông qua tính dai dẳng của nó. CHƯƠNG 2 : TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm tính dai dẳng của lạm phát: Trong nhiều năm qua, các nhà kinh tế học đã cùng có một sự đồng thuận chung rằng lạm phát luôn có tính ỳ của nó, lạm phát ở thời kỳ t phụ thuộc vào lạm phát ở các thời kỳ t-1, t-2…. Nói một cách khác đi, đó chính là tính dai dẳng của lạm phát.
Những khái niệm đầu tiên về tính ỳ này chính là về một tỷ lệ đánh đổi – là số năm cần thiết mà chỉ số thất nghiệp phải tăng lên nhằm giảm thấp lạm phát đi khoảng một phần trăm ( Gordon, King và Modigliani, 1982 ). Điều đó cho thấy rằng, lạm phát hoàn toàn không biến đổi một cách tự do và ngẫu nhiên, thay vào đó, nó cần những nỗ lực, các tác động đủ lớn về mặt kinh tế để kéo lạm phát trở lại mức ban đầu, nhưng những nỗ lực này cũng rất tốn kém, đòi hỏi phải có một sự hy sinh ở một mức độ nào đó trong sản lượng của cả nền kinh tế. Trong nhiều năm qua, các nhiều nghiên cứu đã áp dụng nhiều cách tính toán khác nhau để đo lường tính dai dẳng của lạm phát, ngoài ra, họ cũng có chung quan điểm rằng : lạm phát thay đổi một cách từ từ trước tác động của các cú sốc và nó luôn giữ ở một mức gần bằng, không thay đổi quá nhiều so với lạm phát thời thời kỳ trước đó. Đã có khá nhiều định nghĩa về tính dai dẳng của lạm phát xuyên suốt qua các bài nghiên cứu trước đây.
Batini và Nelson (2002) đã đưa ra một số định nghĩa về tính dai dẳng như : (1) chuỗi tương quan dương của lạm phát, (2) độ trễ của các chính sách tiền tệ với các tác động và ảnh hưởng của nó đến lạm phát. Marques (2004) cho rằng tính dai dẳng của lạm phát là “tốc độ mà lạm phát quay về lại mức cân bằng của nó sau một cú sốc”. Paya (2007) cũng cho rằng tính dai dẳng của lạm phát là xu hướng mà lạm phát quay về mức cân bằng dài hạn của nó một cách từ từ. Từ các định nghĩa trên, ngoại trừ định nghĩa đầu tiên của Batini và Nelson khi cho rằng lạm phát là một chuỗi tương quan dương của số liệu về lạm phát, các định nghĩa còn lại đều có liên quan đến tốc độ mà lạm phát quay lại mức cân bằng dưới tác động của một cú sốc.
Nếu tốc độ đó cao, ta nói lạm phát có tính dai dẳng thấp và ngược lại, nếu tốc độ phản ứng của lạm phát thấp ta nói rằng lạm phát có tính dai dẳng cao. Tính ỳ của lạm phát đã được nhắc đến từ rất sớm trong mô hình đường cong Phillips khi nó bao gồm các biến độ trễ của lạm phát, điều đó có nghĩa là, lạm phát ở hiện tại phụ thuộc vào lạm phát trong quá khứ với các độ trễ của nó. Một ví dụ điển hình của tính chất này là “ mô hình tam giác” của Gordon : k π t = ∑ α iπ t −i − b(U t − U ) + cxt + εt i =1 Trong công thức trên, ta thấy rằng lạm phát π t phụ thuộc vào 3 yếu tố : - Độ trễ của chính nó : π t − i - Độ chênh lệch giữa thất nghiệp thực tế và thất nghiệp không làm gia tăng lạm phát : (U t − U ) - Sự thay đổi trong trong nguồn cung : xt Từ phương trình trên ta thấy rằng các biến trên đều có tính dai dẳng, và lạm phát cũng kế thừa tính dai dẳng từ các biến đó. Trong nhiều nghiên cứu trước đây, đã có nhiều bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng việc đưa các biến trễ của lạm phát vào giúp ta tạo ra được mô hình mang tính giải thích tốt hơn.
Một cách đơn giản đó là so sánh R2 của hai mô hình đường cong Phillips theo dạng của Gordon ứng với hai trường hợp có và không có biến độ trễ lạm phát, việc đưa thêm các biến trễ vào giúp cho việc giải thích mô hình tốt hơn. ( Fuhrer 2009) Những nghiên cứu gần đây của Marque (2005), Fuhrer (2009), Babetskii (2007) cho rằng tính dai dẳng của lạm phát được tính toán ở các quốc gia là thấp hơn khá nhiều so với người ta tưởng. Tính dai dẳng của lạm phát trong những năm 1990 thấp hơn nhiều so với giai đoạn 1970 – 1980. Levin và Piger (2004) chỉ ra rằng khi chúng ta thay đổi cấu trúc dữ liệu nghiên cứu, tìm ra các điểm gãy và tính toán giá trị tính dai dẳng của lạm phát qua các thời kỳ khác nhau, thì có thể thấy được tính ỳ của lạm phát đã suy giảm một cách rõ rệt.
Gần đây đang dần quay lại xu hướng nghiên cứu về tính dai dẳng của lạm phát. Những bài nghiên cứu đầu tiên chủ yếu tập trung vào khối các nước Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD. Kết quả của những bài nghiên cứu này chỉ ra một sự dai dẳng cao trong lạm phát ở các quốc gia này (Pivetta và Reis, 2001; Fuhrer và Moore, 1995).2 Nguyên nhân gây ra tính dai dẳng của lạm phát : Trong những mô hình sớm nhất về kỳ vọng hợp lý, Lucas (1972); Sargent và Wallace (1975) cho rằng giá cả hàng hóa là linh hoạt do các kỳ vọng hợp lý và có thể tạo ra những “ bước nhảy” để phản ứng lại trước những cú sốc. Các kỳ vọng hợp lý thông qua việc xác định giá cả tương lai từ các hợp đồng giúp cho lạm phát luôn có những thay đổi linh hoạt trước những cú sốc của nền kinh tế.
Tuy nhiên, vào những năm đầu thập niên 90, đã có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng kỳ vọng hợp lý này không thật sự làm thỏa mãn cho những giải thích về sự thay đổi trong giá cả. Fuhrer và Moore (1992, 1995) cho rằng mô hình của Taylor đã ước lượng mức độ về tính dai dẳng của lạm phát thấp hơn nhiều so với những gì có thể nhìn thấy được trong chuỗi dữ liệu về lạm phát. Theo đó, lạm phát phụ thuộc hoàn toàn vào các dữ liệu trong quá khứ của sản lượng cũng như là các cú sốc. Cũng như trong mô hình dựa trên những kỳ vọng tương lai, lạm phát đuợc kế thừa từ tính dai dẳng trong sản lượng, nhưng các độ trễ ngụ ý rằng, lạm phát không thể tạo ra được những bước nhảy để phản ứng lại với các cú sốc trong sản lượng và lạm phát cũng có xu hướng duy trì ở gần những mức giá trị ban đầu của nó Đã có nhiều nghiên cứu khác nhằm làm sáng tỏ những nguyên nhân có thể gây ra tính dai dẳng trong lạm phát của nền kinh tế.
Một nguyên nhân đáng kể có thể nhắc đến đó là sự ổn định trong chính sách tiền tệ và mức độ đáng tin cậy của các Ngân hàng Trung ương đã làm suy giảm kỳ vọng về lạm phát trong tương lai và do đó làm giảm đi mức độ của các hành vi điều chỉnh giá cả kỳ vọng trong bộ phận dân cư. Levin (2004) chỉ ra rằng việc xác lập một mức lạm phát mục tiêu rõ ràng và minh bạch có tác dụng làm giảm đi một cách rõ rệt việc tự điều chỉnh lạm phát kỳ vọng dựa trên lạm phát quá khứ của các thành phần trong nền kinh tế, và do đó làm suy giảm tính dai dẳng của lạm phát một cách đáng kể. Và một mức lạm phát mục tiêu hay thay đổi có thể là nguồn gốc trong tính dai dẳng cao của lạm phát. Có khá nhiều bằng chứng ủng hộ quan điểm trên.
Fuhrer và Moore (2009) đưa ra những bằng chứng cho rằng chính sách lạm phát mục tiêu đã làm thay đổi tính dai dẳng của lạm phát ở các quốc gia phát triển như Anh, Canada và các quốc gia Châu Âu. Ở các quốc gia như Mỹ và Nhật, mặc dù không tiến hành chính sách lạm phát mục tiêu như thông thường, tuy nhiên việc có một quan điểm rõ ràng và hành động tương ứng thể hiện quyết tâm giữ cho lạm phát ở mức thấp và ổn định, tính dai dẳng của lạm phát cũng đã có sự suy giảm đáng kể.