Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của HNKTQT của Việt nam. Chương 2: Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Chương 3: Những giải pháp tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. PHƯƠNG 1: CO SỬ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN CUA HỘI NHẬP KINH TẾ QUOC TẾ Ứ VIỆT NAM 1.NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ.
Khái niệm và bản chất của hội nhập kinh tế quốc tế. Nền kinh tế thế giới từ sau thế chiến thứ hai đã, đang trải qua những biến động mạnh mẽ và hội nhập kinh tế trở thành công cụ hữu ích cho việc phân bổ các nguồn lực và đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Việc tham gia nền kinh tế toàn cầu của mỗi quốc gia ngày nay được quyết định bởi trình độ phát triển, đặc điểm của từng nền kinh tế cũng như đường lối phát triển kinh tế do chính phủ của mỗi quốc gia đưa ra thực hiện. Trong điều kiện như thế, vận hành một nền kinh tế đóng cửa sẽ kìm hãm sự phát triển của quốc gia đó.
Do vậy, việc tìm kiếm các hình thức hợp tác kinh tế mới, hữu hiệu ngày càng trở nên cấp bách và có ý nghĩa thiết thực. Thuật ngữ “Hội nhập kinh tế (economic integration)”, dich từ tiếng La - Tỉnh có nghĩa là kết hợp những phần nhỏ trong một tổng thể lớn, lần đầu tiên được để cập tới trong nghiên cứu của các nhà nghiên cứu người Đức và Thuy Điển vào những năm 30 của thế kỷ 20 [35]. Hiện nay, xung quanh vấn đề này, có rất nhiều công trình nghiên cứu các nhà kinh tế học vĩ đại như A. Thuật ngữ hội nhập kinh tế quốc tế có chung nguồn gốc tiếng Anh với thuật ngữ liên kết quốc tế, nhất thể hoá kinh tế.
Các thuật ngữ này được dùng với hàm ý chính trị, lịch sử khác nhau. “Nhất thể hoá kinh tế” là thuật ngữ được sử dụng chủ yếu trong bối cảnh hợp tác giữa các nước XHCN, đặc biệt là trong khuôn khổ Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) trước đây. Còn “liên kết kinh tế” là thuật ngữ được sử dụng khá nhiều khi nói về hiện tượng phát triển các tổ chức kinh tế trên cơ sở tự do hoá mậu dịch giữa các nước không phải là XHCN, đặc biệt là trong khuôn khổ các tổ chức thương mai khu vực như Cộng đồng kinh tế châu Âu (EC), Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu (AFTA), Thị trường chung Trung Mỹ (CACM) v. trong những thập kỷ sau chiến tranh thế giới thứ hai [21].
Hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) là khái niệm mở, nó phản ánh quá trình các thể chế quốc gia tiến hành xây dựng, thương lượng, ký kết và tuân thủ các cam kết song phương, đa phương (khu vực và toàn cầu) ngày càng đa dạng hơn, cao hơn và đồng bộ hơn trong các lĩnh vực đời sống kinh tế quốc gia và quốc tế. Trong quá trình nghiên cứu, ở các góc độ khác nhau các nhà nghiên cứu đưa ra những khái niệm khác nhau về vấn đề này: HNKTOQT là tham gia vào phân công lao động quốc tế, mở rộng không gian và môi trường nhằm tạo dựng những điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế nhằm chiếm lĩnh những vị trí phù hợp nhất có thể được trong quan hệ kinh tế quốc tế. Nó vừa là đòi hỏi khách quan, vừa là nhu cầu nội tại của sự phát triển kinh tế mỗi nước. HNKTQT làm tăng sự gắn bó, phụ thuộc lẫn nhau, đan xen nhau với nhiều tang nấc giữa nhiều nền kinh tế quốc gia và nền kinh tế thế giới.
Bởi vậy, hội nhập kinh tế không chỉ là sự hợp tác mà còn là một cuộc đấu tranh phức tạp để góp phần phát triển kinh tế và củng cố an ninh chính trị, độc lập kinh tế, giữ gìn bản sắc dân tộc của mỗi quốc gia. Trong hội nhập kinh tế, các định chế kinh tế - xã hội của quốc gia tất yếu sẽ có những đặc trưng thích hợp với những định chế kinh tế quốc tế và chịu sự chi phối của các định chế đó. Xét ở góc độ quốc gia có quan niệm cho rằng HNKTQT “thực hiện việc mở của nền kinh tế quốc gia, gắn sự phát triển kinh tế quốc gia với kinh tế khu vực và thế giới bảng việc tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động KTQT’ [25]. Cũng ở góc độ quốc gia Phó Thủ tướng Vũ Khoan cho rằng “Hội nhập là sự gắn kết nền kinh tế nước mình với nền kinh tế khu vực và thế giới, tham gia vào phân công lao động quốc tế, gia nhập các tổ chức kinh tế đa phương, chấp nhận, tuân thủ những quy định chung được hình thành trong quá trình hợp tác và đấu tranh giữa các nước thành viên trong tổ chức ấy mà nhiều người gọi là “luật choi chung”[7].
Có quan niệm rộng hơn nữa: “Hội nhập kinh tế quốc tế là sự đan xen, gan bó phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa các quốc gia với nhau”[25]. Trước kia khái niệm HNKTQT thường chỉ hiểu đơn thuần là những hành động giảm thuế mở cửa thị trường. Ví dụ: Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT). HNKTOQT ngày nay được hiểu là việc một quốc gia thực hiện chính sách kinh tế mở, tham gia các định chế tài chính quốc tế, thực hiện tự do hoá và thuận lợi hoá thương mại đầu tư.
Qua trình HNKTQT cùng với quá trình tự do hoá kinh tế là hai quá trình song song và hợp thành của một quá trình rộng lớn hơn đó là quá trình toàn cầu hoá. Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về HNKTQT, song mỗi cách tiếp cận trên đã phản ảnh được từng mặt của một quá trình, nhưng điều chúng ta cần nhấn mạnh và nhận thức day đủ là: Mọi vấn đề kinh tế luôn gắn chặt với hệ thống chính trị - đó là nền tang tư tưởng của các vấn đề kinh tế. Các quốc gia chỉ chấp nhận hội nhập khi lợi ích quốc gia được đảm bảo và ngày càng được tăng cường. Thực chất HNKTQT là sự định hình và phát triển nên kinh tế toàn cầu với tư cách một chính thể chung thống nhất, không còn biên giới quốc gia về kinh tế.
“Hội nhập kinh tế quốc tế là việc các nước đi tìm kiếm một số điều kiện nào đó mà họ thống nhất được với nhau kể cả giành cho nhau những ưu đãi, tạo ra những điều kiện công bằng, có đi có lại trong quan hệ hợp tác với nhau nhằm khai thác khả năng lẫn nhau phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế của minh”[3]. Nếu như Liên minh Châu Âu là mô hình hội nhập kinh tế thành công nhất trên thế giới của các Quốc gia phát triển thì ở một chừng mực nhất định, Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), là một minh chứng cho sự phát triển xu hướng hội nhập kinh tế giữa các nước đang phát triển. Hội nhập kinh tế quốc tế và hợp tác kinh tế quốc tế là hai quá trình thường đan xen nhau. HNKTQT phải trên cơ sở hợp tác kinh tế va là sự phát triển của hợp tác kinh tế quốc tế, còn hợp tác kinh tế quốc tế phải luôn hướng tới mục tiêu hội nhập kinh tế quốc tế.
Ngày nay, các định chế kinh tế đa phương nhất là đa phương toàn cầu sẽ định hướng, thậm chí khống chế các quan hệ song phương, hợp tác song phương nhìn chung phải dựa vào các quy định của hợp tác đa phương. các quan hệ đa phương không chỉ giới hạn ở quan hệ lợi ích kinh tế, thương mại trực tiếp, cụ thể mà còn ở việc đấu tranh bảo vệ các lợi ích chung, chống những áp đặt không bình đẳng, không công bằng ở các thế lực mạnh trên thế giới; ở việc nâng cao vị thế của các định chế, tổ chức đa phương đó trên các diễn đàn quốc tế [21] 1. Nội dung, hình thức và mức độ hội nhập kinh tế quốc tế 1. Nội dung HNKTQT HNKTOT là sự chủ động tham gia tích cực của các quốc gia vào quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá, nhằm thiết lập, thực thi các định chế, tổ chức kinh tế toàn cầu và khu vực nhờ rỡ bỏ những rào can ngăn cách giữa các quốc gia, đã làm gia tăng khối lượng thương mại và đầu tư quốc tế, tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự tăng trưởng kinh tế và nâng cao phúc lợi cho con người.
Một là, ký kết và tham gia các định chế và tổ chức kinh tế quốc tế, trong đó các thành viên đàm phán xây dựng các luật chơi chung và thực hiện các quy định, cam kết đối với từng thành viên của các định chế, tổ chức đó. Hai là, tiến hành những cải cách ở trong nước để có thể thực hiện những quy định, cam kết quốc tế về hội nhập như mở cửa thị trường, giảm và tiến tới xoá bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan, điều chỉnh cơ cấu kinh tế phù hợp với quá trình mở cửa và tự do hoá kinh tế, cải cách hệ thống doanh nghiệp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của chúng, đào tạo nguồn nhân lực nhằm đáp ứng đòi hỏi của quá trình hội nhập xây dựng các thể chế tương thich[36]. HNKTQT có những nội dung chủ yếu như: tự do hoá thương mai, đầu tư, dịch vụ, tự do lưu chuyển các nguồn hàng hoá, vốn, công nghệ, lao động v. Những biểu hiện cụ thể của hội nhập kinh tế; giá trị xuất khẩu của quốc gia; mức độ tự do hoá thương mại, đầu tư và dịch vụ, tỷ lệ đóng góp của công ty quốc tế vào tăng trưởng kinh tế quốc gia v.
Hình thức hội nhập Hội nhập kinh tế quốc tế được thực hiện ở các phạm vi rộng hẹp khác nhau. Ở mức độ đơn phương các nước có thể chủ động thực hiện những biện pháp tự do hoá, mở cửa trong mỗi lĩnh vực nhất định do nhận thấy cần thiết thực hiện các mục đích phát triển kinh tế của nước mình. Với hội nhập kinh tế song phương, các nước có quan hệ kinh tế với nhau ký kết các hiệp định song phương trên cơ sở các nguyên tắc của một khu vực mậu dịch tự do. Với hội nhập kinh tế đa phương, nhiều nước cùng nhau thành lập hoặc tham gia vào những định chế tổ chức kinh tế khu vực (hội nhập khu vực).
Hội nhập kinh tế khu vực là một quá trình đi liên với khu vực hoá kinh tế.