phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa luận gồm 2 chơng, 5 tiết. Chơng 1 QUAN DIEM CUA CHU NGHIA MAC- LENIN VA CUA DANG CONG SAN VIET NAM VE SO HUU 1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về sở hữu Khái niệm sở hữu đã trải qua một quá trình lịch sử phát triển lâu đời. Trong suốt nhiều thế kỷ trớc, khái niệm “sở hữu” hoặc là tuyệt nhiên không đợc sử dụng, hoặc đã đợc dùng với những nghĩa khác xa nghĩa ngày nay [25; Tr.
Mác là ngời đầu tiên đứng trên quan điểm duy vật biện chứng để phân tích xã hội và sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sử. Từ đó, ông tìm ra quy luật khách quan về sự phát triển của xã hội loài ngời. Mác khác với những nhà t tởng cùng thời, ông đi sâu vào nghiên cứu vấn đề sở hữu gắn với các hình thái kinh tế- xã hội chứ không nghiên cứu khái niệm sở hữu một cách chung chung trừu tợng. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin rất quan tâm vấn đề sở hữu, các ông đã tiếp thu một cách có chọn lọc những quan điểm về sở hữu và đã đa ra những quan điểm khoa học về sở hữu dựa trên lập trờng của chủ nghĩa duy vật, nhng hầu nh các ông không đa ra một định nghĩa cụ thể nào về sở hữu.
Trong các nghiên cứu của mình, C. Mác coi vấn đề sở hữu giữ vị trí cực kỳ quan trọng cả về mặt kinh tế và mặt chính trị. Về mặt kinh tế, vấn đề sở hữu có quan hệ mật thiết với quá trình sản xuất của cải vật chất. Sở hữu chính là mối quan hệ xã hội tồn tại một cách khách quan giữa ngời với ngời trong quá trình lao động sản xuất.
Đó chính là quan hệ về các điều kiện khách quan của sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng những của cải xã hội. Nhờ có mối quan hệ khách quan này, con ngời có thể tiến hành đợc quá trình sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần và nhờ có quá trình sản xuất này mà xã hội loài ngoi co thể tồn tại và phát triển. Mác viết: “Nơi nào không có một hình thái sở hữu nào cả, thì ở đó cũng không có một tên sản xuất nào cả. Do đó cũng không có một xã hội nào cả”|[8; Tr.
Về mặt chính trị, C. Mác cho rằng, giai cấp nào năm đợc quyên sở hữu những t liệu sản xuất chủ yếu, thì giai cấp đó năm quyền tổ chức quản lý sản xuất, nắm quyền phân phối sản phẩm xã hội; giai cấp nào năm quyền chỉ phối lĩnh vực sản xuất các giá trị vật chất, thì giai cấp đó còng năm quyền chi phối mọi lĩnh vực khác của đời sống xã hội, là giai cấp thống trị trong xã hội. Ông viết: “Tất cả các cuộc cách mạng gọi là những cuộc cách mạng chính trị, từ cuộc cách mạng đầu tiên cho đến cuộc cách mạng cuối cùng, đều đợc tiến hành để bảo hộ chế độ sản xuất thuộc một loại nào đó. Mác coi van đề sở hữu là vấn đề sống còn của bất kỳ giai cấp nào trong xã hội, ông viết: “Vấn đề sở hữu bao giờ cũng là vấn đề sống còn của giai cấp này hay giai cấp khác- tùy thuộc vào trình độ phát triển của công nghiệp.
Trong các tác phâm mang tính cơng lĩnh, C. Ăngghen cũng đã xác định một cách triệt để và dứt khoát rằng sở hữu là “vấn đề cơ bản”, then chốt của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Quan niệm của Mác về sở hữu đợc trình bày ở nhiều tác phâm Trong đó, có những tác phâm viết riêng nh “T bản”, “Bản thảo kinh tế- triết học năm 1844; có những tác phâm viết chung với Ph. Ăngghen nh “Hệ t tởng Đức”, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”.
Mác khẳng định: “định nghĩa sở hữu t sản không phải là gì khác mà là trình bày tất cả những quan hệ xã hội của sản xuất t sản”[3; Tr. Ăngghen đều coi sở hữu không chỉ là một quan hệ xã hội, mà trớc hết về thực chất và cơ bản, sở hữu là là mối quan hệ giữa ngời với ngời trong đời sống sản xuất xã hội, trớc hết là t liệu sản xuất và kết quả của lao động sản xuất. Con ngời chỉ đặt ra vẫn đề sở hữu khi có sự hiện diện của ngời khác, cần khẳng định sự chiếm hữu của họ nhằm thực hiện một lợi ích nào đó đợc thừa nhận cả về kinh tế và pháp ly[27; Tr. Ăngghen cũng khẳng định sở hữu là một quan hệ xã hội mang tính lịch sử cụ thé[5; Tr.
Mác đã viết trong tác phẩm “Sự khốn cong cua triét hoc” (1847): “Trong các thời đại lịch sử, quyền sở hữu đã phát triển một cách khác nhau và trong một loạt quan hệ xã hội hoàn toàn khác nhau. Khi định nghĩa về sở hữu C. Mác đã chỉ ra phơng pháp luận để nghiên cứu khái niệm sở hữu đó là phân tích nền sản xuất xã hội. Vì chỉ có dựa vào nghiên cứu những điều kiện vật chất của đời sống xã hội mới đa ra đợc định nghĩa, vị trí và vai trò của sở hữu.
Sở hữu là quan hệ đối với những điều kiện của sản xuất. Sở hữu luôn có hai nội dung kinh tế và pháp lý. Có thể hiểu một cách đơn giản nội dung pháp lý của phạm trù sở hữu thừa nhận về mặt pháp luật một vật phẩm nào đó (đối tợng sở hữu) là của ai và nội dung pháp lý của sở hữu thê hiện ở chỗ, pháp luật quy định bảo vệ đối với chủ thể sở hữu nh thế nào. Nh trong tác phẩm “Quốc hữu hóa ruộng đất”, C.
Mác đã nhận định rằng, trong tiến trình lịch sử, những kẻ chiếm đoạt đều nhận thấy cần phải thông qua luật pháp do chính họ đặt ra dé dem lai tính ôn định về mặt xã hội (một sự thừa nhận nào đó) cho cái quyền nguyên thủy nảy sinh từ sức mạnh thô bạo. Còn nội dung kinh tế là những lợi ích mà ngời sở hữu đợc hởng từ vật phẩm đó. Nội dung kinh tế của sở hữu trớc hết thể hiện ở chỗ, nó là cơ sở, là điều kiện của sản xuất. Hai nội dung trên của sở hữu có quan hệ biện chứng với nhau.
Sự phát triển của các quan hệ sở hữu về mặt kinh tế sẽ kéo theo những thay đổi của quan hệ pháp lý. Còn, nội dung kinh tế của phạm trò sở hữu rất phức tạp, bao hàm nhiều khâu, nhiều mối quan hệ, nó không chỉ dừng lại ở câu hỏi đối tợng sở hữu thuộc về ai, ai quản lý kinh doanh mà còn xem xét đến cơ chế thực hiện lợi ích kinh tế nh thế nào, đới hình thức nào? Vì vậy, khi xác định đợc nội dung kinh tế của phạm trò sở hữu trong một giai đoạn lịch sử nhất định thì cần phải đặt nó trong tất cả những mối liên hệ vốn có của nó. Sở hữu chính là biểu hiện về mặt xã hội của sự chiếm hữu, nó thay đổi theo sự thay đối của những điều kiện kinh tế- xã hội của một giai đoạn lịch sử nhất định. Nói cách khác, sở hữu là quan hệ xã hội mang tính lịch sử cụ thể biến đối cong với quá trình phát triển của lịch sử loài ngời.
Quan niệm của C. Mác về sở hữu t liệu sản xuất quyết định bởi tính chất, trình độ phát triển lực lợng sản xuất. Angghen trong “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ t hữu và của nhà nớc” thì sự phát triển của lực lợng sản xuất, việc phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc, cũng nh việc tăng cờng trao đổi hàng hóa là nguồn gốc nảy sinh hình thức sở hữu t hữu. Bởi không ai có thé tiến hành sản xuất nếu nh không sở hữu bắt cứ t liệu sản xuất nào vì sở hữu t liệu sản xuất là tiền đề tạo ra của cải vật chất và mang lại lợi ích cho chủ sở hữu.
Các ông đã tiến hành phân tích những giai đoạn chủ yếu trong sự phát triển lịch sử của sản xuất mà cơ sở nền tảng của nó là sự phát triển của các lực lợng sản xuất. Ở đây, quan điểm này đợc trình bày lần đầu tiên, các ông đã chỉ rõ, mỗi một nắc thang mới trong sự phát triển lịch sử của sản xuất đã làm nảy sinh những hình thức phân công lao động mới và tơng ứng với mỗi hình thức phân công lao động ấy là những hình thức sở hữu mới và đến lợt mình, mỗi hình thức sở hữu này lại sản sinh ra những quan hệ xã hội và chính trị tơng ứng với nó. Mác cho rằng: “không một hình thái xã hội nào diệt vong trớc khi tất cả những lực lợng sản xuất mà hình thái xã hội đó tạo địa bàn đầy đủ cho phát triển, vẫn cha phát triển và những quan hệ sản xuất mới, cao hơn, cũng không bao giờ xuất hiện trớc khi những điều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó cha chín mui trong lòng bản thân xã hội cũ. Cho nên, nhân loại bao giờ cũng chỉ đặt ra cho mình những nhiệm vụ mà nó có thể giải quyết đợc, vì khi xét kỹ hơn, bao giờ ngời ta cũng thấy rằng bản thân nhiệm vụ ấy chỉ nảy sinh khi những điều kiện vật chất để giải quyết nhiệm vụ đó đã có rồi, hay ít ra cũng đang trong quá trình hình thành”[6; Tr.
Khi phát triển tới một giai đoạn nhất định, các lực lợng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có, hay mâu thuẫn với những quan hệ sở hữu, 10 trong đó từ trớc đến nay các lực lợng sản xuất vẫn phát triển. Những quan hệ cũ đã cản trở sản xuất, chứ không làm cho sản xuất tiến triển lên. Từ chỗ là những hình thức phát triển của các lực lợng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lực lợng sản xuất. Khi đó, bắt đầu thời đại của một cuộc cách mạng xã hội.
Ví dụ nh cuộc cách mạng t sản Pháp đã xóa bỏ chế độ sở hữu phong kiến để thay bằng chế độ sở hữu t sản. Nói cách khác, một chế độ xã hội mới không thê ra đời, không thế chiến thắng chế độ xã hội cũ hay đứng vững khi mà các lực lợng sản xuất quá thấp kém hoặc quá trì trệ. Nh vay, lực lợng sản xuất phát triển sé dan đến thay đổi quan hệ sở hữu; bất cứ một sự cải biến nào về quan hệ sở hữu cũng đều là kết quả tất yếu của việc tạo nên những lực lợng sản xuất mới, không còn phù hợp với các quan hệ sở hữu cũ nữa.