chương 1. Qua các nghiên cứu trên có thể thấy để tính toán một quốc gia đã sẵn sàng đề thực hiện LPMT chưa có thể dựa vào nhiều yếu tố: - sự độc lập của NHTW; - tính minh bạch, tính chịu trách nhiệm của NHTW trong việc thực hiện LPMT cũng như điều hành chính sách tiền tệ; - NHTW cam kết theo đuổi một mục tiêu; - không ưu tiên chính sách tài khóa; - khả năng xây dựng, thiết kế mô hình dự báo lạm phát; - phân tích mối quan hệ giữa lạm phát và các công cụ chính sách tiền tệ. Ở đây tại Việt Nam, nghiên cứu dựa vào ba yếu tố chính để kiểm tra Việt Nam có đủ điều kiện để thực hiện LPMT hay không? 1) tính độc lập của NHTW, 2) có duy nhất một mục tiêu, 3) kiểm tra mối quan hệ giữa lạm phát, sản lượng và công cụ chính sách tiền tệ. Để tính toán mối quan hệ trên tác giả dựa vào các yếu tố như sau: chỉ số giá tiêu dùng (CPI), sản lượng (GDP), cung tiền (M2), lãi suất tiền gửi (IR), tỷ giá hối đoái (ER), thâm hụt ngân sách (BD).
Trong đó CPI được xem như là chỉ số đại diện cho lạm phát, chỉ số GDP đại diện cho mức sản lượng. 13 CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mô hình kiểm định. Dựa vào các nghiên cứu trên, cụ thể là các nghiên cứu Aliyu, Shehu Usman Rano and Englama, Abwaku (2009) tác giả đã kế thừa và có những bổ sung cần thiết cho phù hợp với điều kiện hiện tại cho nghiên cứu LPMT mà tác giả đang thực hiện. Mô hình nghiên cứu của nghiên cứu của đề tài có dạng sau: Xt = (GDP, CPI, M2, BD, IR, ER) Trong đó: các biến đo lường trong mô hình tập trung vào xem xét các biến nội sinh và các nhân tố tác động đến LPMT.
GDP tổng sản phẩm quốc nội là giá trị thị trường của tất cả các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia trong một thời kỳ nhất định. Ở đây GDP được sử dụng làm đại diện cho mức sản lượng. M2: Cung tiền là toàn bộ lượng tiền đang lưu thông của cá nhân và doanh nghiệp, không kể các tổ chức tín dụng và NHTW. Cung tiền M2 tổng lượng tiền M1 và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn.
Cung tiền M2 phản ánh cầu tiền tệ trong nền kinh tế. BD: thâm hụt ngân sách Nhà nước là tình trạng các khoản chi của Ngân sách nhà nước lớn hơn các khoản thu. Thâm hụt NSNN gây nên những tác động tiêu cực đến đời sống người dân và làm mất cân bằng nền kinh tế: thoái lui đầu tư, thâm hụt cán cân thương mại … Bên cạnh đó thâm hụt NSNN còn có mối liên hệ chặt chẽ với lạm phát, nó là một trong các nguyên nhân gây ra lạm phát. IR: lãi suất tiền gửi là tỷ lệ mà theo đó người vay trả cho việc sử dụng tiền mà họ vay từ người cho vay.
Ở đây lãi suất tiền gửi là lãi suất mà Ngân hàng trả cho người 14 gửi tiền vào Ngân hàng (% /năm). Lãi suất được xem là công cụ để điều hành chính sách tiền tệ, đặc biệt nó được xem như là công cụ để đối phó với lạm phát. ER: tỷ giá hối đoái VND/USD tính trung bình trong Quý là số đơn vị Việt Nam đồng phải bỏ ra để mua một USD. Với 6 biến được sử dụng trong nghiên cứu này là các chỉ tiêu vĩ mô cơ bản, phản ảnh mức độ lạm phát.
Qua đó, các nhà lãnh đạo, làm chính sách có thể dựa vào đó để phục vụ công tác nghiên cứu, hoạch định chính sách kinh tế.2 Phương pháp nghiên cứu.1 Phương pháp tự hồi quy Vector Trong phần này chúng ta tiến hành kiểm tra điều kiện quyết định để thực hiện chế độ LPMT bằng thực nghiệm. Phương pháp sử dụng là phương pháp tự hồi quy vector (VAR) mà nhiều tác giả trước đây (Gottschalk và Moore, 2001; Tutar, 2002; Bakradze và Billmeier 2007; Aliyu, Shehu Usman Rano and Englama, Abwaku, 2009) đã sử dụng. Đồng thời chạy kiểm định Granger Causality để kiểm tra mối quan hệ các biến theo thời gian. Mô hình VAR được tính toán thông qua các chỉ số GDP, CPI, M2, BD, IR, ER với các biến nội sinh như sau: Xt = (DIFGDP2, DIFCPI, DIFM2, DIFBD, DIFIR, DIFER) lần lượt là sai phân bậc hai của biến sản lượng GDP và chuỗi sai phân bậc một của các biến chỉ số giá CPI, cung tiền M2, thâm hụt ngân sách BD, lãi suất tiền gửi IR, tỷ giá hối đoái VND/USD ER.
Mỗi một biến trong mô hình đều phụ thuộc chính nó và giá trị hiện tại cũng như giá trị tương lai của các biến khác. Xt = A(L)Xt-1 + B(L)Zt + εt 15 Trong đó Xt là vector k của biến nội sinh, Zt là vector d các biến ngoại sinh, A và B là ma trận hệ số rút gọn được tính toán, εt là ma trận các biến đổi hoặc cú sốc. Việc sắp xếp trật tự các biến căn cứ theo những lập luận được đề xuất bởi Ben Bernanke và Mihov (1998): các biến phi chính sách (sản lượng, giá cả) đứng trước và tiếp đến là các biến liên quan đến chính sách (cung tiền, lãi suất, TGHĐ). Lập luận này cũng phù hợp với nền kinh tế Việt Nam: Thứ nhất: Sản lượng không bị ảnh hưởng đồng thời bởi các cú sốc của các yếu tố khác.
Mức giá bị ảnh hưởng bởi những thay đổi trong sản lượng. Cả sản lượng và giá cả không bị ảnh hưởng cùng lúc của bất kỳ cú sốc chính sách nào trong một thời kỳ. Bởi vì bất kỳ một chính sách nào khi thực hiện cũng đều có độ trễ. Khi các biến chính sách thay đổi, sản lượng và giá cả không thay đổi ngay mà chỉ thay đổi ở kỳ sau, có thể 1 tháng, 2 tháng hoặc dài hơn.
Tuy nhiên những thay đổi về sản lượng và giá cả lại làm thay đổi cung, cầu tiền Việt Nam đồng dẫn đến thay đổi lượng cung tiền và ảnh hưởng đến việc thu chi ngân sách của chính phủ cũng chính là ảnh hưởng đến biến thâm hụt ngân sách. Thứ hai: Khi sản lượng và giá cả thay đổi, chính phủ có thể thay đổi lãi suất ngay để điều hành nền kinh tế. Như thời điểm hiện nay khi mà giá cả ngày càng tăng, việc sản xuất vẫn trì trệ thì việc hạ lãi suất như là một tín hiệu để ứng phó với tình trạng này nhằm thúc đẩy các nhà đầu tư vay vốn sản xuất. Những thay đổi về lãi suất này cũng sẽ làm thay đổi tỷ giá ngay trong thời kỳ đó.
Với lập luận trên việc sắp xếp trật tự các biến trong mô hình VAR được xác định như sau: GDP, CPI, M2, BD, IR, ER 16 2.2 Các kiểm định liên quan mô hình.1 Kiểm định nghiệm đơn vị. Sử dụng tiêu chuẩn ADF (Augumented Dickey-Fuller) để kiểm định nghiệm đơn vị nhằm kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu. Dữ liệu trong mô hình phải có tính dừng mới đảm bảo tính ổn định của mô hình. Xét mô hình: Yt = ρ Yt-1 + Ut (Ut nhiễu trắng).
Kiểm định giả thiết H0: ρ = 1(chuỗi không dừng), H1: ρ ≠ 1 (chuỗi dừng). ρˆ Ta ước lượng mô hình trên, τ = phân phối theo quy luật DF, nếu τ > τ α thì se ( ρˆ ) bác bỏ giả thiết H0. Trong trường hợp này chuỗi là dừng và ngược lại chuỗi không dừng. Sau khi kiểm định tính dừng của số liệu, nếu chuỗi không dừng ta lấy sai phân bậc 1 và kiểm tra tính dừng của chuỗi sai phân.
Nếu được chuỗi dừng ta sẽ sử dụng chuỗi sai phân này để xử lý mô hình.2 Kiểm định Granger Causality. Kiểm định Granger Causality được thực hiện cả kiểm định đơn biến và đa biến để trả lời cho câu hỏi có hay không có sự thay đổi của lạm phát gây ra sự thay đổi của sản lượng và các yếu tố chính sách tiền tệ và ngược lại. Phương trình hồi quy trong kiểm định Granger có dạng: k k Yt =α 0 + ∑ β lYt −l + ∑δ l X t −l +ε t { l =1 k l =1 k Xt =α 1+ ∑φl X t −l + ∑ ρlYt −l + vt l =1 l =1 17 - Nếu δ l khác không và có ý nghĩa thống kê nhưng ρ không có ý nghĩa thống l kê thì chúng ta kết luận rằng sự biến động của X gây ra biến động của Y. - Nếu δ l không có ý nghĩa thống kê nhưng ρ khác không và có ý nghĩa thống l kê thì chúng ta kết luận rằng sự biến động của Y gây ra biến động của X - Nếu cả δ l và ρ khác không và có ý nghĩa thống kê thì X và Y có tác động qua l lại lẫn nhau.
Và ngược lại nếu cả hai đều không có ý nghĩa thống kê thì X và y không có tác động qua lại lẫn nhau. Trong nghiên cứu này kiểm định Granger tác động của từng biến sản lượng, cung tiền, thâm hụt ngân sách, lãi suất, tỷ giá và tác động tổng hợp của các biến này lên biến chỉ số giá CPI nên biến CPI là Y còn các biến khác là X. Đối với trường hợp nghiên cứu tác động của các biến chỉ số giá và các biến tiền tệ lên sản lượng GDP thì GDP là Y và các biến kia là X.3 Thu thập và mô tả dữ liệu. Phương pháp thu thập dữ liệu: Căn cứ trên mô hình nghiên cứu được chọn, dữ liệu thu thập được tiếp cận và tổng hợp từ nguồn dữ liệu thứ cấp tại tổng cục thống kê Việt nam (GSO), website cổng thông tin điện tử Chính Phủ (chinhphu.vn), quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến năm 2012.
Tổng sản phẩm quốc nội GDP: Đây là số liệu thường được dùng để đánh giá mức độ tăng trưởng, phát triển của đất nước. Số liệu GDP được lấy từ Thống kê tài chính quốc tế IFS – IMF tính theo đơn vị tỷ đồng.1: Tổng sản phẩm quốc nội 200000 180000 160000 140000 120000 100000 80000 60000 40000 00 01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 12 GDP (Nguồn: IMF) GDP của nước ta từ năm 2000 đến nay tăng liên tục và có tính chu kỳ, GDP thường thấp vào Quý I tăng lên trong Quý II, giảm xuống ở Quý II và tiếp tục tăng trong Quý IV. Chỉ số giá: Đây là số liệu thường dùng để đo lường lạm phát, vì vậy hai thuật ngữ CPI và lạm phát có thể thay thế cho nhau. Số liệu CPI (CPI 2005 = 100) được lấy từ thống kê tài chính quốc tế IFS –IMF.