CHƯƠNG 1: THU NHẬP VÀ MỨC SỐNG-NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUOC TE 1.1 Khái niệm - Phân loại thu nhập và mức sống 1.1Khái niệm mức sống Vấn đề mức sống được nhiều nước và tổ chức quốc tế quan tâm. Ở Việt nam, mục tiêu dân giàu nước mạnh luôn được Đảng và nhà nước đặt lên làm mục tiêu hàng đầu. Công tác đánh giá mức sống đã được tiến hành hàng chục năm nay, tuy nhiên đó vẫn còn là một vấn đề còn gây nhiều tranh luận đặc biệt là khi đi sâu vào các chỉ tiêu đánh giá để đưa ra được khái niệm chuẩn mực về nìức sống. Kinh tế học hiện đại coi mức sống là tổng khối lượng hàng hóa và dịch vụ mà con người có thể mua được bởi số tiền mà họ kiếm được.
Trên thực tế, khái niệm nay được hiểu là mức độ thỏa mãn các nhu cầu vẻ vật chất và tinh thần của xa hội với những tiêu chuẩn sống nhất định được xã hội thừa nhận, theo cách này thì mức sống được biểu ở hai khía cạnh: - Khối lượng hàng hóa, vật phẩm tiêu dùng và địch vụ có được để thỏa mãn nhu cầu tại một thời điểm. - Giá trị và cơ câu của các hàng hóa, vật phẩm tiêu dùng và dịch vụ đó. Nhưng một điều ma chúng ta đều rõ là nhu cầu của những người khác nhau thi khác nhau và nhu cầu đó cũng không rúal bat biếu ma nó luôn piến đổi theo theo thời gin cùng sự phat triển của loài người theo trinh tự từ thấp tới cao và ngày càng đa dạng, Do đó, yến tố lịch sử dóng vai trò nhất định trong việc xác định và đánh giá unite số? cos com NGƯỜI, Lấy những chỉ tiêu nào để đánh giá mức sống của con người là một vấn đề hết sức nan giải. Nếu chi dựa vào chỉ tiêu thu nhập quốc dan bình quân đầu người thì xây ra tình trạng là không phải nước nào có thu nhập bình quân đầu người cao hơn là người dân có mức sống cao hơn.
Thực tế cho thấy có những nước thu nhập bình quân đầu người là thấp nhưng đời sống người dân nước đó không phải là thật khó khăn. Từ quan điểm đó, tổ chức Liên hợp quốc đưa ra chỉ số phát triển con người HDI nhằm đánh giá mức độ phát triển của người dân mỗi quốc gia. HDI là sự kết hợp của ba thành tố cơ bản liên quan tới cuộc sống con người, đó là: tuổi thọ, tri thức, và mức thu nhập dựa trên GDP thực tế bình quân đầu người đã điều chỉnh bằng phương pháp sức mua tương đương tính cùng một đơn vị tiền thống nhất là USD. Thông qua những lập luận đã nêu trên, ta có thể rút ra khái niệm chung, tổng quát về mức sống: Mức sống là một phạm trù kinh tế xã hội mang tính lịch sử, phản ánh trình độ phát triển kinh tế-xã hội tại một thời điểm nhất định, là mức độ thỏa mãn các nhu cầu về vật chất và tinh thân của xã hội với những tiêu chuẩn nhất định được xã hội thừa nhận.
Như vậy, nội dung cơ bản của mức sống là sự thỏa mãn và đáp ứng các nhu cầu đã được thiết lập phù hợp với trình độ phát triển của quốc gia tại một thời điểm bao gồm: - Ăn. - Đồ dùng sinh hoạt. - Giao thông di lại và thông tin liên lạc. - Dịch vụ công cộng.
- Môi trường và mức độ ô nhiễm môi trường. - Mức độ an toàn của con người trong cuộc sống và việc làm. - Thời gian nhàn rỗi và việc sử dụng thời gian nhàn rỗi.2Phân loại mức sống Qua khái niệm đưa ra, chúng ta thấy rằng mức sống là mang tính tương đối, mang tính lãnh thổ, quốc gia, vùng, nhóm dân cư. Qui luật phát triển không đều cùng sự mở rộng giao lưu quốc tế cho chúng ta thấy mức sống ở mỗi nước, mỗi vùng là có sự khác biệt.
Nếu tạm gác việc đối chiếu so sánh trên phạm vi quốc tế mà giới hạn nghiên cứu ở từng quốc gia cụ thể thì có thể phân chia mức sống thành các loại sau: - Mức sống cao. - Mức sống chung của xã hội. - Mức sống tối thiểu. Để có thể phân mức sống thành các loại trên, điều quan trọng là phải xây dựng được một hệ thống các chỉ tiêu mang tính tổng hợp để đánh giá mức sống, hệ thống này phái đạt được hai yêu cầu sau: - Trinh độ phat triển của nhu cầu, thể hiện qua sự phong phú, đa dang cũng như mức độ tiên tiến của như: cầu.
- Mức độ, kha năng thỏa mãn các nhu cầu đó. Nhìn khái quát thi ca hai yêu cầu này déu phải dựa trên cơ sở trình độ phát triển của nền kinh tế-xã hội. Mức sống cao là khả năng đáp ứng cao nhất mọi nhu cầu, tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất để con người tự hoàn thiện và phát triển toàn diện. Mức sống chung của xã hội là mức sống ở mức trung bình của xã hội tại mỗi trình độ phát triển nhất định của nền kinh tế xã hội.
Mức sống chung có khuynh hướng là mức sống của đại đa số dân chúng. Mức sống tối thiểu là mức độ thỏa mãn cho các nhu cầu tối thiểu của con người tại một thời điểm nhất định. Mức sống tối thiểu thường được thể hiện qua hai mặt: giá trị và hiện vật. Về hiện vật, nó thể hiện qua cơ cấu, chung loại các tư liệu sinh hoạt và các dịch vụ sinh hoạt cần thiết cho cuộc sống (ăn, mặc, ở, đi lại.
Về giá tri, nó biểu hiện qua giá trị của các tu liệu sinh hoạt và dịch vụ sinh hoạt cần thiết. Mức sống tối thiểu là mức sống thấp nhất có thể chấp nhận của con người trong mỗi hoàn cảnh cụ thể của nền kinh tế-xã hội. Đó là mức sống giới hạn mà dưới mức đó con người không có khả nang tái sản xuất giản đơn sức lao động và được dam bảo nhân cách, và khi đó, con người bị rơi vào tình trạng nghèo đói, khổ cực. Nghèo đói là một vấn đề được bàn tới nhiều trong giai đoạn hiện nay.
Đó là tình trạng con người sống trong cảnh không có năng lực hoặc thiếu khả năng để duy trỉ cuộc sống và tham gia vào đời sống xã hội. Nghèo đói lại được chia làm hai loại: nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. Nghèo tuyệt đối là việc không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống. Nghèo tương đối để cập tới những người nghèo nhất về phân phối thu nhập, đó là những người không có khả năng đạt đến một tiêu chuẩn sống hiện tại [ 48].
Nghèo đói tuyệt đế: có xu hướng đề cập tới những người bị thiếu ăn theo nghĩa den, ngh3o tương đối dé cập tới những người nghèo khổ nhất trong xã hội ở mỗi quốc gia, nghèo tương đối thay đổi theo thời gian tuỷ thuộc vào mức sống chung của xã hội [ 48].1Khái niệm thu nhập Một trong những yếu tố qui định mức sống của mỗi con người, mỗi gia đình là tài sản của cá nhân, gia đình đó. Tài sản được hình thành thông qua thu nhập bằng nhiều nguồn khác nhau. Quan niệm thu nhập về lý thuyết còn khá đơn giản, trong thực tế, việc định nghĩa và xác định thu nhập còn là vấn đề hết sức khó khăn. Đối với phần lớn những người làm công ăn lương thì việc xác định thu nhập còn tương đối dễ dàng.
Nhưng đối với những người kinh doanh thì vô cùng phức tạp. Bàn về thu nhập, chưa thấy tài liệu nào đưa ra định nghĩa chung mà mới chỉ ra từng loại thu nhập cụ thể: thu nhập quốc dân, thu nhập công ty, thu nhập cá nhân,. những khái niệm này cũng chỉ dừng lại ở những khoản mục tạo thành trong từng loại thu nhập. Qua những khái niém đó ta thấy, giữa các khái niệm về thu nhập tuy có đối tượng là khác nhau, song giữa chúng có những điểm chung và có mối liên hệ ràng buộc mà khi ta bàn tới loại hình thu nhập nay thì không thể không 44 cập tới loại hình thu nhập khác.
Theo định nghĩa của Haig-Simons đưa ra thì thu nhập là tổng đại số của giá trị thị trường các quyền lợi được hướng dưới dạng tiêu dùng và những thay doi xề giá trị trong tổng các quyền sở hữu trong một khoảng thời gian nhất định. Theo quan điểm này thi thu nhập gồm hai phần: phần thứ nhất gồm giá trị thị trường các hang hóa. dịch vụ đã tiêu thu, như vậy chưa phan ánh đây đủ phần thu nhập đã được cất trữ và dou giản chỉ coi thu nhập là những vật phẩm và dich vụ tiêu dùng. Mặt khác, thu nhập rất khó xác định boi chịu sự chỉ phối mạnh của yếu tố giá cả các hàng hóa, dich vụ tren 11 thị trường.
Phần thứ hai trong định nghĩa của Haig-Simons là coi thu nhập gồm cả giá trị tăng thêm của các tài sản thuộc quyền sở hữu. Thu nhập này còn hết sức mơ hồ bởi giá trị tăng thêm đó mới hoàn toàn ở dạng tiềm năng, nó chỉ tạo ra thu nhập khi thực hiện chuyển quyền sở hữu. Định nghĩa này cũng cho ta thấy giữa thu nhập và quyền sở hữu có một mối liên hệ ràng buộc. Samuelson-nhà kinh tế học nổi tiếng người Mỹ đã đưa ra khái niệm thu nhập như sau: “Thu nhập là tổng số tiền kiếm được hoặc thu góp được trong một khoảng thời gian nhất định “{31,244].
Như vậy ông đã đưa yếu tố thời gian vào trong khái niệm và thu nhập là phải được tính trong một khoảng thời gian nhất định, theo ông khoảng thời gian đó thường được tính là một năm [31, 244 ]. Thuật ngữ tiền mà ông su dụng trong khái niệm là những khoản thu dưới dạng tiền tệ hay hiện vật được tính thành tiền, nó bao gồm cả phần sản xuất để tự tiêu dùng và tiêu dùng các dịch vụ mà không phải trả tiền. Thu nhập mà Samuelson nói tới là thu nhập của mỗi cá nhân. Trong khái niệm mà ông đưa ra không chỉ nêu lén thu nhập theo ý nghĩa thuần túy mà trong đó còn chứa đựng cả vấn đề phân phối lại thu nhập, điều này được thể hiện khi ông bàn tới các vấn dé thuộc về thuế khóa, các khoản chuyển tiền của chính phủ, các bảo đảm xã hội và các dịch vụ, hàng hóa công cộng.
Qua các khái niệm của các nhà kinh tế bàn về vấn đề thu nhập, ta thấy khái niệm thu nhập có những điểm chung sau đây: - Thu nhập là những khoản lợi thu được trong một khoảng thời gian. - Lợi ích đó có thể được biểu hiện dưới những hình thức khác nhau nhưng có chung thước đo hằng tiền.